- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "tranh chấp hợp đồng lao đông"
- Tòa quyết gì? ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 18/2026/QĐST-LĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 01 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Ngọc
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đình Giang - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên họp: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 16 - Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 443/2025/LĐ-ST ngày 15 tháng 12 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 01/2026/QĐMPH-LĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Đào Thị L, sinh năm 1988; thường trú tại: Ấp V, xã V, tỉnh
Vĩnh Long; địa chỉ liên hệ: Số F khu dân cư T, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ: Số E, xa lộ X, phường D, Thành phố Hồ Chí
Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Bảo hiểm xã hội cơ sở D; địa chỉ: Đường T, Khu T, phường D, Thành phố Hồ
Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu và lời khai trong quá trình giải quyết người yêu cầu - bà
Đào Thị L trình bày:
Hiện nay bà Đào Thị L thực hiện thủ tục điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế thì Cơ quan Bảo hiểm thông báo rằng trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2006 đến tháng 5 năm 2007, bà L có đứng tên ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Cổ phần Đ, đồng thời công ty này cũng đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà L trong giai đoạn đó. Tuy nhiên, trên thực tế cùng khoảng thời gian này, bà L đang làm việc cho một công ty khác và cũng được tham gia đóng bảo hiểm xã hội tại đó. Như vậy, cùng một thời điểm bà L lại bị đóng bảo hiểm tại hai công ty. Bà Đào Thị L xác định rằng trong khoảng thời gian nêu trên, bà không phải là người giao kết hợp đồng lao động và không làm việc tại Công ty Cổ phần Đ; việc giao kết hợp đồng lao động mang tên bà là do người khác đã sử dụng thông tin cá nhân của bà để giao kết.
Nhận thấy việc thông tin cá nhân của bà Đào Thị L bị sử dụng để ký hợp đồng
lao động với Công ty Cổ phần Đ là trái quy định pháp luật, vi phạm nguyên tắc trung thực, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L. Vì vậy bà L đề nghị Tòa án xem xét, tuyên bố Hợp đồng lao động giữa bà Đào Thị L và Công ty Cổ phần Đ trong thời gian từ tháng 07/2006 đến tháng 05/2007 là vô hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L.
Do bận công việc nên bà Đào Thị L có yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt
quá trình tố tụng.
- Ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D (viết tắt là BHXH) trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty Cổ phần Đ cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho Bà Đào Thị L, sinh năm 1988, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 9106116370, có quá trình tham gia BHXH từ tháng 07/2006 đến tháng 05/2007, đã chốt sổ và chưa nhận trợ cấp BHXH một lần.
Ngoài ra, Bà Đào Thị L còn có mã số BHXH 0207136120, có quá trình tham gia
BHXH từ tháng 07/2007 đến tháng 05/2007 tại Công ty TNHH F (Việt Nam).
Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa Bà Đào Thị L và
Công ty Cổ phần Đ, đề nghị Tòa án căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty Cổ phần Đ có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không? Những yêu cầu khác của bà L, cơ quan bảo hiểm xã hội D không có ý kiến gì.
Do bận công việc nên đề nghị được giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố
tụng.
- Ông Nguyễn Hữu M là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ trình bày: Các chế độ của bà Đào Thị L sau khi nghỉ việc Công ty đã giải quyết đầy đủ cho bà L. Việc bà L yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Đào Thị L với Công ty Cổ phần Đ thì Công ty đồng ý với yêu cầu của bà L. Kính đề nghị Q tòa giải quyết đúng theo quy định của pháp luật. Do bận công việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Đào Thị L là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Đào Thị L, Công ty Cổ phần Đ và bảo hiểm xã hội cơ
sở D có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian từ tháng 04/2007 đến tháng 05/2007, người lao động tên
Đào Thị L giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH F (Việt Nam) và được Công ty T1, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 0207136120. Tuy nhiên trong thời gian từ 07/2006 đến tháng 05/2007 cũng đã có người sử dụng thông tin cá nhân của bà Đào Thị L tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần Đ với mã số bảo hiểm 9106116370.
Xét thấy, lời khai của bà L và Công ty Cổ phần Đ phù hợp với xác nhận của
Bảo hiểm xã hội cơ sở D. Bởi lẽ, trong cùng một khoảng thời gian từ tháng 04/2007 đến tháng 05/2007 bà L có cùng 02 mã số bảo hiểm xã hội khác nhau.
Thực tế đối tượng lao động và đối tượng ký kết hợp đồng tại Công ty Cổ phần Đ
từ tháng 07/2006 đến tháng 05/2007 là một người khác chứ không phải là bà Đào Thị L, trường hợp này là vi phạm nguyên tắc “trung thực” quy định tại Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994 (khoản 1 Điều 15 Bộ luật lao động năm 2019), do đó căn cứ Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015) đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, nên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Đào Thị L.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Đào Thị L
về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đào Thị L với Công ty Cổ phần Đ theo sổ bảo hiểm xã hội số 9106116370 trong khoảng thời gian làm việc từ 07/2006 đến tháng 05/2007 bị vô hiệu.
kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố
tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Đào Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;
Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 9 Bộ luật lao động năm 1994 (khoản 1 Điều 15 Bộ luật lao động năm
2019).
- Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015).
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Đào Thị L.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đào Thị L với Công ty Cổ phần Đ từ
tháng 7/2006 đến tháng 5/2007 (theo sổ bảo hiểm xã hội số 9106116370) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 9106116370 không phải là
bà Đào Thị L, sinh năm 1988, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Đào Thị L được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội số 9106116370.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Đào Thị L phải chịu 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0045927 ngày 04/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền
kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn
10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND KV 16 – TP. Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh ; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thị Ngọc |