- Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Bà Lê Thị Trúc Phương yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lê Thị Trúc P.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 170/2026/QĐST-VLĐ | TP. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 5 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.
Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16
- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 218/2026/TLST-VLĐ ngày 15 tháng 5 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số:149/2026/QĐST-VLĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Lê Thị Trúc P, sinh năm 1987; thường trú: Số B, X, phường Đ, thành phố Cần Thơ; địa chỉ liên hệ: Số A đường T, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Trường A, sinh năm 1995; địa chỉ: Số D tổ B, ấp T, xã T, tỉnh An Giang, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
- Công ty TNHH T, địa chỉ: Số B, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt);
- Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu - Thành phố H; địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Lê Thị Trúc P trình bày:
Từ tháng 12/2009 đến tháng 06/2018, bà P làm việc tại Công ty TNHH K, từ tháng 10/2018 đến nay bà làm việc tại nhiều công ty khác nhau và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7409335751. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian tháng 05/2013, bà P cho em gái Lê Thị Trường A mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH T và bà Lê Thị Trúc P xác định người ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH T là bà Lê Thị Trường A. Do hiểu biết pháp luật hạn chế, để bà Lê Thị Trường A tìm được việc làm có thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình nên bà Lê Thị Trúc P mới cho mượn chứng minh nhân dân để đi xin việc. Vì vậy, bà Lê Thị Trúc P bị trùng bảo hiểm xã hội trong thời gian cho bà Lê Thị Trường A mượn thông tin cá nhân để làm việc. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bà Lê Thị Trúc P yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên bà Lê Thị Trúc P (do bà Lê Thị Trường A là người ký kết) với Công ty TNHH T là vô hiệu. Bà Lê Thị Trúc P không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Trường A thống nhất trình bày của bà Lê Thị Trúc P. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của bà Lê Thị Trúc P, bà Lê Thị Trường A đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động theo đơn yêu cầu của bà Lê Thị Trúc P. Bà Lê Thị Trường A không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Tại Công văn của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu trình bày: Bà Lê Thị Trúc P, sinh ngày 24/9/1987, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH, BHTN số sổ 7409335751 tại Công ty TNHH K từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2009. Đồng thời, từ tháng 05/2013 đến 05/2013 có quá trình tham gia BHXH số sổ 7413012685 tại Công ty TNHH T.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T trình bày: Công ty TNHH T vắng mặt và không có ý kiến trình bày.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu bà Lê Thị Trúc P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Trường A và Bảo hiểm xã hội cơ sở L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Lê Thị Trúc P là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Lê Thị Trúc P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Trường A, Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Xem xét yêu cầu của đương sự: Trong thời gian tháng 05/2013, người lao động tên Lê Thị Trúc P, sinh năm 1987, căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, được Công ty TNHH T, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7413012685. Tuy nhiên, bà Lê Thị Trúc P và bà Lê Thị Trường A đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH T và thực tế làm việc tại công ty T1 khoảng thời gian tháng 5/2013 là bà Lê Thị Trường A (do bà Lê Thị Trúc P cho bà Lê Thị Trường A mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm).
Xét thấy, lời khai của bà Lê Thị Trúc P và bà Lê Thị Trường A phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ 12/2009 đến tháng 06/2018, bà Lê Thị Trúc P tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7409335751 tại Công ty TNHH K. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH T trong khoảng thời gian tháng 05/2013 là bà Lê Thị Trường A, không phải là bà Lê Thị Trúc P.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Lê Thị Trường A mượn hồ sơ cá nhân của bà Lê Thị Trúc P để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7413012685 tháng 5/2013 tại Công ty TNHH T là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Trúc P về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Trúc P với Công ty TNHH T theo sổ bảo hiểm xã hội số 7413012685 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Trúc P về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH T trong giai đoạn tháng 5/2013 là bà Lê Thị Trường A, không phải là bà Lê Thị Trúc P. Bà Lê Thị Trường A và bà Lê Thị Trúc P có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7413012685.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Lê Thị Trúc P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lê Thị Trúc P.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Trúc P với Công ty TNHH T (Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7413012685) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7413012685 không phải là bà Lê Thị Trúc P, sinh năm 1987; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Lê Thị Trúc P và bà Lê Thị Trường A được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7413012685.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Lê Thị Trúc P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0028547 ngày 08/5/2026 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16, TP. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16, TP. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Hồng |