- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với: Nguyễn Văn T, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1998.
- Căn cứ chính? Điều 16 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và…; Điều 17 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2021/QĐ-TA | Phan Rang - Tháp Chàm, ngày 04 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC BẮT BUỘC
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Lê Hoàng Hải
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Trung
Ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh N tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 18/QĐ-TA ngày 28/5/2021 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 07 tháng 4 năm 1998;
Chứng minh nhân dân số: 264507484; Ngày cấp: 12 tháng 10 năm 2015; Nơi cấp: Công an tỉnh Ninh Thuận;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/12;
Nguyên quán: phường Đ, thành phố P, tỉnh N.
Hộ khẩu thường trú: Khu phố 5, phường M, thành phố P, tỉnh N.
Chỗ ở hiện nay: Khu phố 2, phường Đ, thành phố P, tỉnh N.
Tiền án: không;
Tiền sự:
- Ngày 17 tháng 11 năm 2020, Nguyễn Văn T “Gây mất trật tự ở khu dân cư” tại khu phố 1, phường Đ. Bị Công an phường Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền: 300.000 đồng.
- Ngày 24 tháng 11 năm 2020, Nguyễn Văn T “Xâm hại sức khỏe của người khác” tại khu phố 2, phường Đ. Bị Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 2.500.000 đồng.
- Ngày 29 tháng 01 năm 2021, Nguyễn Văn T có hành vi “Đánh nhau” tại khu phố 2, phường Đ. Bị Công an phường Đ lập biên bản vi phạm hành chính. Ngày 22/02/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ ban hành quyết định số 60/QĐ/UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường là 03 tháng.
- Ngày 28/02/2021 có hành vi “Trộm cắp tài sản” tại khu phố 5, phường T. Bị Công an phường T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.
- Ngày 25/3/2021 có hành vi “Gây mất trật tự ở khu dân cư” tại khu phố 1, phường Đ. Bị Công an phường Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 300.000 đồng.
- Ngày 10/5/2021, Chủ tịch UBND phường Đ ban hành Quyết định số: 78/QĐ-UBND về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với Nguyễn Văn T, để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1970 và bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm: 1972. (Có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện của Cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn T - Phó đội trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an thành phố P. Giấy ủy quyền ngày 04/6/2021 (Có mặt tại phiên họp).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P: Bà Lê Nguyễn Tường V - Kiểm sát viên (Có mặt tại phiên họp).
NHẬN THẤY:
Nguyễn Văn T đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như sau:
Lần 1: Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 17 tháng 11 năm 2020, Nguyễn Văn T “Gây mất trật tự ở khu dân cư” tại khu phố 1, phường Đ. Bị Công an phường Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền: 300.000 đồng.
Lần 2: Vào lúc 18 giờ 50 phút ngày 24 tháng 11 năm 2020, Nguyễn Văn T “Xâm hại sức khỏe của người khác” tại khu phố 2, phường Đ. Bị Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 2.500.000 đồng.
Lần 3: Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 29 tháng 01 năm 2021, Nguyễn Văn T có hành vi “Đánh nhau” tại khu phố 2, phường Đ. Bị Công an phường Đ lập biên bản vi phạm hành chính. Ngày 22/02/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ ban hành quyết định số 60/QĐ/UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường là 03 tháng.
Lần 4: Vào lúc 20 giờ 05 phút ngày 28/02/2021 có hành vi “Trộm cắp tài sản” tại khu phố 5, phường T. Bị Công an phường T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.
Lần 5: Vào lúc 01 giờ 55 phút ngày 25/3/2021 có hành vi “Gây mất trật tự ở khu dân cư” tại khu phố 1, phường Đ. Bị Công an phường Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 300.000 đồng.
Lần 6: Vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 28/3/2021 có hành vi “Xâm phạm sức khỏe của người khác” tại chợ Phan Rang thuộc khu phố 5, phường K. Bị Công an phường K lập biên bản vi phạm hành chính bàn giao cho Công an phường Đ để đề nghị đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Lần 7: Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 09/5/2021 có hành vi “Gây mất trật tự gia đình ở khu dân cư” . Bị Công an phường Đ lập biên bản vi phạm hành chính, tiếp tục lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Ngoài ra, T còn nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 30/7/2020 T có quen biết Nguyễn Văn S, sinh năm 1998. Trú tại khu phố 3, phường M, thành phố P trộm cắp tài sản, sau đó đưa cho T đi cầm cố tại dịch vụ cầm đồ Sơn Nguyễn ở phường T để lấy tiền tiêu xài.
Ngày 09 tháng 5 năm 2021, ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị Tuyết M là cha mẹ ruột của Nguyễn Văn T có đơn đề nghị các cơ quan chức năng lập hồ sơ đưa T vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Ý kiến của Người đại diện Cơ quan đề nghị: Căn cứ vào các vi phạm nêu trên của Nguyễn Văn T, cùng với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Căn cứ vào Điều 93, khoản 1 Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Nhận thấy, Nguyễn Văn T đã bị Chủ tịch UBND phường Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo Nghị định số: 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ. Trong thời gian 03 tháng, Nguyễn Văn T không có tiến bộ, mà còn nhiều lần vi phạm pháp luật, bị xử phạt hành chính. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở giáo dục bắt buộc, với thời gian là 24 tháng.
Ý kiến của Nguyễn Văn T: Thừa nhận là đã bị Chủ tịch UBND phường Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường và T đã có những hành vi vi phạm pháp luật như Người đại diện của Cơ quan Công an đã nêu. Nguyễn Văn T cam kết khi vào cơ sở giáo dục bắt buộc sẽ cố gắng rèn luyện để trở thành người tốt, sớm trở về tái hòa nhập cộng đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh N:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.
- Về nội dung hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đảm bảo tính pháp lý và thống nhất với ý kiến của Người đại diện Cơ quan đề nghị: Đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời gian là 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về thủ tục tố tụng: Ngày 22/02/2021, Nguyễn Văn T bị Chủ tịch UBND phường Đ ban hành Quyết định số: 60/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường với thời gian là 03 tháng. Đến ngày 10/5/2021, Chủ tịch UBND phường Đ ban hành Quyết định số: 78/QĐ-UBND về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại phường. Ngày 11/5/2021, Chủ tịch UBND phường Đ ban hành thông báo số 78/TB-UBND về việc “Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc” đối với Nguyễn Văn T. Thấy rằng: Trong khoảng thời gian từ ngày 22/02/2021 đến ngày 10/5/2021, Nguyễn Văn T đã 04 lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, 01 lần trộm cắp tài sản, 02 lần gây mất trật tự khu dân cư và 01 lần xâm hại đến sức khỏe người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Chủ tịch UBND phường Đ ban hành Quyết định lập hồ sơ gửi đến Phòng Tư pháp thành phố P thẩm định tính hợp pháp, rồi chuyển đến Trưởng Công an thành phố P đề nghị Tòa án thành phố P ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền, phù hợp với Điều 93, 94, 101, 102 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 16, Điều 17 Nghị định số: 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Về nội dung: Tại phiên họp, lời trình bày của Người đại diện Cơ quan đề nghị và của Nguyễn Văn T là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Thấy rằng: Nguyễn Văn T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhưng không chịu lao động lương thiện, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để làm người tốt, có ích cho gia đình và xã hội, mà chỉ ham chơi, trộm cắp tài sản, gây mất trật tự và xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Nguyễn Văn T đã bị Chủ tịch UBND phường Đ ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì Nguyễn Văn T phải trải qua 02 năm kể từ ngày chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì mới được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Tuy nhiên, trong thời gian chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, Nguyễn Văn T không có tiến bộ mà còn nhiều lần vi phạm pháp luật. Hành vi của T thuộc tình tiết tăng nặng là: Vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Điều đó cho thấy, Nguyễn Văn T là người xem thường pháp luật, hành vi vi phạm ngày càng nghiêm trọng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Với tính chất, mức độ vi phạm nêu trên, xét thấy cần phải đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, rèn luyện, giúp T trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Xét đề nghị của Trưởng Công an thành phố P và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P về việc đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời gian 24 tháng là hoàn toàn có căn cứ, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với: Nguyễn Văn T, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1998.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Trưởng Công an thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh N.
Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- TAND tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND TP. PR-TC;
- Công an TP. PR-TC;
- Phòng Tư pháp TP. PR-TC;
- UBND phường Đạo Long;
- Người bị đề nghị;
- Lưu: Hồ sơ.
Lê Hoàng Hải
(6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định. 15. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính là người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. 2. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định như sau: a) Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 90; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 90 hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 90; 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 90 của Luật này; b) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 92; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 92 hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 92 của Luật này; c) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật này; d) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật này. Điều 7. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính 1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Điều 8. Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính 1. Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp trong Luật này có quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc. 2. Thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau. Điều 93. Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 của Luật này để lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc. 2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng. Điều 94. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định. 2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây: a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính; b) Người chưa đủ 18 tuổi; c) Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi; d) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện; đ) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Điều 101. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng quy định tại Điều 94 của Luật này được thực hiện như sau: a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan; b) Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; c) Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này. 2. Trường hợp người vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại Điều 94 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 3. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này được quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và chuyển Trưởng Công an cùng cấp. Điều 16. Lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Nghị định 81/2013/NĐ-CP) 1. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3, Khoản 5 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính khi đối tượng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm đó trong 06 tháng. 2. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 92, Khoản 1 Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính khi đối tượng đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm đó trong 06 tháng. 3. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không áp dụng đối với người đang tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy. Điều 17. Thông báo về việc lập hồ sơ và kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính 1. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại Khoản 4 Điều 97, Khoản 3 Điều 99, Khoản 3 Điều 101 và Khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị áp dụng hoặc cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên về việc lập hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu rõ biện pháp xử lý hành chính áp dụng trong hồ sơ đề nghị, quyền được đọc, ghi chép và sao chụp những nội dung cần thiết trong hồ sơ của người nhận được thông báo. 2. Việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Khoản 1 Điều này do Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, Trưởng phòng tư pháp cấp huyện thực hiện phải bảo đảm sự phù hợp, đầy đủ theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các vấn đề sau: a) Các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại Khoản 3 Điều 97; Khoản 1, khoản 2 Điều 99; Khoản 1, khoản 2 Điều 101; Khoản 1, Khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; b) Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 90, Điều 92, Điều 94 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; c) Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị; trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định. 3. Văn bản kiểm tra tính pháp lý phải có chữ ký của người có thẩm quyền kiểm tra và được đóng dấu; đối với cấp xã phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Văn bản kiểm tra tính pháp lý được gửi kèm hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Điều 18. Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính khi thi hành công vụ 1. Khi tiến hành xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, người có thẩm quyền phải: a) Có lệnh thi hành công vụ, mặc trang phục, sắc phục, phù hiệu của ngành theo quy định; b) Xử lý kịp thời, đúng tính chất, mức độ vi phạm, đúng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, điều lệnh, điều lệ, quy chế của từng ngành; c) Có thái độ hòa nhã, nghiêm túc, không gây phiền hà, sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản khác của người vi phạm hoặc dung túng, bao che người vi phạm; không được vi phạm các điều cấm. 2. Người có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này hoặc vi phạm quy định về những hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 12 Luật xử lý vi phạm hành chính hoặc vi phạm quy định khác của pháp luật, thì tùytheo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi hoàn theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Điều 107. Gửi quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để thi hành Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có hiệu lực, Tòa án nhân dân đã ra quyết định phải gửi cho người bị áp dụng, Trưởng Công an cấp huyện và Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và các cơ quan hữu quan để thi hành theo quy định của pháp luật; quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
| Nơi nhận: - Ghi theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND; - Lưu hồ sơ. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 04: ghi rõ Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân quận N, thành phố C). buộc thì bỏ cụm từ “(không áp dụng)”. (4) Ghi địa điểm Toà án tiến hành mở phiên họp (ví dụ: tại trụ sở Toà án nhân dân quận N, thành phố C). giáo dục bắt buộc; các ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát, người bị đề nghị tại phiên họp. mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. buộc thì có điểm 2 và điểm 5 phần quyết định; trường hợp Toà án quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì bỏ điểm 2 và điểm 5 phần quyết định. khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. | THẨM PHÁN (1) và (3) Ghi tên Toà án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; cần (2) Trường hợp Toà án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt (5) Ghi tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở (6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính chất, (7) và (9) Trường hợp Toà án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt (8) Ghi quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thủ tục |