- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Đặng Thị Thúy Liễu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Thúy L: Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đặng Thị Thúy L, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và Công ty TNHH S vô hiệu.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 142 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 155/2024/QĐST-VLĐ | Dĩ An, ngày 29 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hà.
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 258/2024/TLST-VLĐ, ngày 14/10/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 75/2024/QĐST-LĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Đặng Thị Thúy L, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Huỳnh Thị Hồng E, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH S; địa chỉ: số H đường Đ, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Hoài A, sinh năm 1980; địa chỉ: 2 TX B tổ B, khu phố G, phường T, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 24/10/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội thành phố D; địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu ngày 30 tháng 9 năm 2024 lời khai trong quá trình tố tụng bà Đặng Thị Thúy L trình bày: Từ tháng 10/2008 cho đến tháng 01/2022 bà L làm việc tại Công ty TNHH D (Việt Nam); địa chỉ: Lô B, khu chế xuất Sài Gòn L, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh và có đóng Bảo hiểm xã hội số 7911438662. Nay bà L liên hệ điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện thông tin cá nhân của bà L bị trùng số Bảo hiểm xã hội.
Lý do bị trùng bảo hiểm: Do thời gian từ khoảng tháng 11/2008 đến tháng 03/2011 bà L cho bà Huỳnh Thị Hồng E mượn giấy tờ tùy thân của mình để đi làm tại Công ty TNHH S, địa chỉ: số H đường Đ, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương và Công ty TNHH S có tham gia bảo hiểm cho bà E tại sổ bảo hiểm 7408324483 từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011. Do đó, bà L bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011. Nay bà Đặng Thị Thúy L yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đặng Thị Thúy L (do bà Huỳnh Thị Hồng E mượn tên) và Công ty TNHH S vô hiệu. Bà L không yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.
- Bà Lê Thị Hoài A là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Công ty TNHH S trình bày: Việc bà Huỳnh Thị Hồng E mượn hồ sơ của bà Đặng Thị Thúy L để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả. Hồ sơ lao động của bà L hiện tại Công ty không còn lưu giữ nên không thể cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Do không còn lưu giữ nên Công ty TNHH S không biết bà L giao kết hợp đồng lao động với Công ty từ thời gian nào và thời hạn bao lâu. Lỗi dẫn đến việc Công ty ký kết hợp đồng với bà L do bà E cung cấp thông tin không trung thực nên phía công ty không có lỗi. Đối với yêu cầu của bà L công ty không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, Công ty TNHH S không yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.
- Ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH S cho người lao động thì Công ty TNHH S có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Đặng Thị Thúy L, sinh năm 1989, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408324483 từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011 tại Công ty TNHH S đã nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra, bà L còn có sổ 7911438662 tham gia BHXH từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2022 tại Công ty TNHH D (Việt Nam).
Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Đặng Thị Thúy L, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này.
Về các yêu cầu khác của bà Đặng Thị Thúy L phía Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Hồng E trình bày: Do có nhu cầu đi làm nhưng chưa đủ tuổi để giao kết hợp đồng lao động nên bà E đã mượn giấy tờ cá nhân của chị họ là bà Đặng Thị Thúy L để đi làm và giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S, địa chỉ: số H đường Đ, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà E làm việc tại Công ty TNHH S từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011. Trong thời gian này bà L cũng đang làm việc tại Công ty TNHH D (Việt Nam); địa chỉ: lô B, khu chế xuất S L, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh và có đóng BHXH số 7911438662.
Nay bà Đặng Thị Thúy L yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị Hồng E (dưới tên Đặng Thị Thúy L) và Công ty TNHH S thời gian từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011 vô hiệu thì bà đồng ý. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Thúy L.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Thúy L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị Thúy L, bà Huỳnh Thị Hồng E, người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố D, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH S đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời thừa nhận của các đương sự có căn cứ để xác định: Người lao động tên Đặng Thị Thúy L, sinh năm 1989, số CCCD xxxxxxxxxxxx, quá trình tham gia bảo hiểm có 02 mã BHXH: đối với mã BHXH số 7911438662 tham gia BHXH 10/2008 đến tháng 01/2022 tại Công ty TNHH D (Việt Nam); đối với mã BHXH số 7408324483 tham gia bảo hiểm tại với Công ty TNHH S từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011 bà E đã nhận trợ cấp BHXH. Nay bà L xác định thời gian từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011 bản thân bà L không ký hợp đồng lao động và không làm việc cho Công ty TNHH S mà thời gian này do bà Huỳnh Thị Hồng E trực tiếp ký hợp đồng và vào làm việc với Công ty TNHH S nhưng dưới tên của bà (Đặng Thị Thúy L). Trong thời gian này, bà L ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH D (Việt Nam). Phía bà E cũng thừa nhận trong thời gian từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011 người thực tế ký hợp đồng và vào làm việc tại Công ty TNHH S là bà (Huỳnh Thị Hồng E) do bà mượn giấy tờ tùy thân của bà Đặng Thị Thúy L để ký hợp đồng lao động và Công ty TNHH S và người trực tiếp liên hệ với Bảo hiểm xã hội để nhận trợ cấp Bảo hiểm xã hội cũng là bà Huỳnh Thị Hồng E nhưng dưới tên là (Đặng Thị Thúy L).
Như vậy, có căn cứ để xác định được trong thời gian từ tháng 11/2008 đến tháng 03/2011 người trực tiếp ký hợp đồng lao động và vào làm việc tại Công ty TNHH S là bà Huỳnh Thị Hồng E, không phải là bà Đặng Thị Thúy L. Việc bà E sử dụng chứng minh nhân dân, thông tin của bà L để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 Sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007. Do đó việc bà Đặng Thị Thúy L yêu cầu tuyên hợp đồng lao động giữa bà Đặng Thị Thúy L (do bà Huỳnh Thị Hồng E) giao kết với Công ty TNHH S vô hiệu là có căn cứ theo quy định tại Điều 136, Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 1995.
Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Người yêu cầu bà Đặng Thị Thúy L chỉ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì trong vụ án. Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Tòa án không xem xét giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Về lệ phí: bà Đặng Thị Thúy L phải chịu theo quy định.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, 33, 35, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 và Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 136 và Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 1995;
Căn cứ Điều 26 Nghị định số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị Thúy L: Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đặng Thị Thúy L, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và Công ty TNHH S vô hiệu.
Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị Thúy L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0001681 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: các đương sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục Thi hành án Dĩ An; - Các đương sự; - Lưu văn thư, hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Hà |