vanban.org

Quyết định 15/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 15/01/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372 và Điều 401, 402 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Trần Thị H yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372 và Điều 401, 402 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;
  • Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Số: 15/2025/QĐST-LĐ
Dĩ An, ngày 15 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Kim Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 327/2024/TLST-LĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024, về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2025/QĐST-LĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Trần Thị H, sinh năm 1985; thường trú: Số T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH B; địa chỉ: Số G, đại lộ T, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lee You G, sinh năm 1959; chức vụ: Tổng giám đốc; là người đại diện theo pháp luật, vắng mặt.

2. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1989; thường trú: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ liên hệ: Số G, tổ A, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, Khu T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T; chức vụ: chuyên viên Bảo hiểm xã hội thành phố D; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03/01/2025). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

Theo Đơn yêu cầu đề ngày 27/12/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, bà Trần Thị H trình bày:

Bà bắt đầu đi làm từ tháng 02/2007 tại Công ty TNHH P; địa chỉ: Thửa đất số 45, tờ bản đồ số đc 14, đường số C, Khu công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà bắt đầu được công ty tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 02/2007 đến tháng 01/2008 thì nghỉ việc ở Công ty này, mã số BHXH là 9107028436. Bà có em ruột tên Trần Thị H1, sinh năm 1989. Năm 2006 do H1 chưa đủ tuổi để đi xin việc nên H1 hỏi mượn chứng minh nhân dân số 183027060 do Công an tỉnh H cấp cho bà để đi xin việc làm. Bà đồng ý cho H1 mượn chứng minh nhân dân, sơ yếu lý lịch và H1 đi xin việc ở Công ty TNHH B; địa chỉ:Số G đại lộ T, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. H1 mượn hồ sơ của bà và ký hợp đồng lao động, làm việc ở Công ty này trong khoảng thời gian từ tháng 05/2006 đến tháng 08/2008, được tham gia bảo hiểm tại Công ty TNHH B với mã số 09106077342. Sau đó H1 xin nghỉ việc và không sử dụng chứng minh nhân dân và thông tin cá nhân của bà để làm việc ở bất cứ doanh nghiệp nào khác. Đến 5/2024 bà đi làm thủ tục tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thì được biết bị trùng bảo hiểm trong khoảng thời gian bà cho H1 mượn hồ sơ. Việc bà cho H1 mượn giấy tờ để có công việc làm, có thu nhập, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác. Bà chỉ cho bà H1 mượn chứng minh để làm việc ở Công ty TNHH B thời gian như trên, ngoài ra không cho ai mượn thời gian nào khác.

Nay bà làm đơn yêu cầu Toà án xem xét tuyên vô hiệu hợp đồng lao động đứng tên bà (do H1 ký) với Công ty TNHH B. Mục đích: Để khôi phục đúng thông tin làm việc thực tế, có căn cứ liên hệ cơ quan bảo hiểm giảm trừ thời gian trùng bảo hiểm cho bà. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu do quan hệ lao động thực tế giữa H1 và Công ty TNHH B đã chấm dứt, đối với các chế độ bảo hiểm thì cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ giải quyết sau khi Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng theo quy định, không yêu cầu Tòa án xem xét. Bà không có yêu cầu gì về chế độ bảo hiểm đối với thời gian H1 tham gia bảo hiểm dưới tên bà.

Tại bản tự khai ngày 27/12/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1 trình bày:

Bà là em gái của bà Trần Thị H. Bà bắt đầu vào D và xin việc từ năm 2006. Lúc này do bà chưa đủ tuổi nên không thể nộp hồ sơ xin việc ở công ty được. Bà hỏi mượn chứng minh nhân dân của bà Trần Thị H để làm hồ sơ nộp vào công ty, bà H đồng ý cho bà mượn chứng minh nhân dân số 183027060 do Công an tỉnh H cấp cho Trần Thị H. Sau khi mượn chứng minh và làm đầy đủ hồ sơ thì bà nộp hồ sơ xin việc ở Công ty TNHH B để xin việc làm, sau đó được Công ty gọi vào làm việc, ký hợp đồng lao động. Do đã lâu nên bà không nhớ rõ ngày tháng hợp đồng, cũng không giữ bản hợp đồng nào. Người trực tiếp ký hợp đồng với Công ty TNHH B là bà chứ không phải bà Trần Thị H, tuy nhiên toàn bộ hồ sơ giấy tờ đứng tên bà bà H. Bà trực tiếp làm việc ở Công ty TNHH B với vị trí là công nhân từ tháng 5/2006 đến tháng 8/2008. Bà được công ty B với mã số 09106077342. Từ tháng 8/2008 bà xin nghỉ việc ở Công ty TNHH B. Bà hiện không còn giữ sổ bảo hiểm trong thời gian làm việc ở đây. Sau đó bà không sử dụng chứng minh nhân dân, thông tin của bà H để làm việc ở nơi nào khác. Mục đích bà mượn giấy tờ để có công việc làm, có thu nhập, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác. Nay bà Trần Thị H yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng lao động với Công ty TNHH B vô hiệu do bà mới là người ký kết hợp đồng và làm việc trực tiếp ở Công ty TNHH B thì bà đồng ý do hoàn toàn đúng với thực tế. Đề nghị Toà án giải quyết cho bà Trần Thị H để bà Trần Thị H được giải quyết các chế độ bảo hiểm theo quy định. Bà không mong muốn được Công ty TNHH B ký lại hợp đồng, cũng không yêu cầu gì khác. Bà không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.

- Tại Bản tự khai ngày 03/01/2025, người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố D là ông Dương Văn T trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH B cho người lao động thì Công ty TNHH B có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Trần Thị H, sinh năm 1985, số CCCD xxxxxxxxxxxx với mã số BHXH 9106077342 từ tháng 05/2006 đến tháng 8/2008, đã nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra bà Trần Thị H còn có mã số 9107028436 tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 02/2007 đến tháng 01/2008 tại Công ty TNHH P. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Trần Thị H, BHXH thành phố D không lưu trữ những hồ sơ này.

Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà Trần Thị H, đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết việc lao động đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 361, 401, 402 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thẩm phán chủ toạ, Thư ký phiên họp đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Trần Thị H, bà Trần Thị H1, BHXH thành phố D đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Công ty TNHH B chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định. Về nội dung việc lao động: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được đưa ra xem xét tại phiên họp, xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Người yêu cầu giải quyết việc lao động là bà Trần Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1, Bảo hiểm xã hội thành phố D vắng mặt tại phiên họp đồng thời có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Quá trình tố tụng bà Trần Thị H và bà Trần Thị H1 khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 5/2006 đến tháng 8/2008, người lao động tên Trần Thị H, sinh năm 1985, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH B, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số là 9106077342. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH B và bà Trần Thị H phát sinh từ hợp đồng lao động (không nhớ rõ ngày tháng). Tuy nhiên, bà Trần Thị H và bà Trần Thị H1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH B và thực tế làm việc tại Công ty TNHH B trong khoảng thời gian từ tháng 05/2006 đến tháng 8/2008 theo hợp đồng lao động là bà Trần Thị H1 chứ không phải bà Trần Thị H do bà H1 mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà H để đi làm việc. Đối với bà H trong giai đoạn này có thời gian thực tế làm việc tại Công ty TNHH P. Mục đích mượn giấy tờ là để bà H1 có việc làm chứ không nhằm mục đích gì khác. Mặc dù quá trình tố tụng Công ty TNHH B không có ý kiến đối với yêu cầu của bà H, tuy nhiên xét thấy trình bày của bà H và bà H1 phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội thành phố D về việc bà Trần Thị H có thời gian đóng trùng bảo hiểm xã hội từ tháng 02/2007 đến tháng 01/2008, cùng lúc tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH B và Công ty TNHH P. Xét thấy việc bà H1 lấy tên bà H để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994. Do đó việc bà Trần Thị H yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giao kết giữa bà H (do bà H1 mượn tên) với Công ty TNHH B là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng không có ý kiến phản đối. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tại phiên họp là phù hợp nên chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc lao động: Bà Trần Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372 và Điều 401, 402 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H về việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị H và Công ty TNHH B (thời gian tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 05/2006 đến tháng 8/2008) vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Trần Thị H chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007589 ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Người yêu cầu giải quyết việc lao động, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ