vanban.org

Quyết định 15/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 15/04/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị L. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam (nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam) với chị Nguyễn Thị L tháng 5/2009 (do chị Nguyễn Thị K mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2508015992 cấp tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam (nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam). Số tiền thoái thu theo sự tính toá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng lao động do vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị L. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam (nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam) với chị Nguyễn Thị L tháng 5/2009 (do chị Nguyễn Thị K mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2024/QĐST-LĐV, ngày 15 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“Về việc: Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị H.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Bích H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên họp: Bà Đinh Diễm Kiều Tr- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 09/2024/TLST-LĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 về việc “Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 139/2024/QĐST-LĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Khu 4, xã T, thành phố V, tỉnh P.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bảo hiểm xã hội tỉnh P.

Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường T, thành phố V, tỉnh P;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh T; Chức vụ: Chuyên viên phòng quản lý thu - sổ thẻ. (Theo quyết định ủy quyền số 02/2024/QĐ-UQ ngày 02/01/2024).

2. Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam. (Nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam).

Địa chỉ: Khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu T; Chức vụ: Nhân viên nhân sự (Theo Quyết định ủy quyền số 02/2024/QĐ-KE VN ngày 01/4/2024).

3. Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Khu 6, xã T, thành phố V, tỉnh P.

(Các đương sự đều xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai chị Nguyễn Thị L trình bày: Tháng 4 năm 2009 do không hiểu biết pháp luật, chị có cho chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1994 mượn một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam ở khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P. Đến tháng 5/2009 thì Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam đã ký hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị K nhưng lấy tên của chị là Nguyễn Thị L và Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội cho chị Anh dưới tên chị từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009, số sổ bảo hiểm là T199602157 nay đã được cấp đổi thành số 2508015992, sau đó chị Anh xin nghỉ việc tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam. Trong thời gian chị Anh làm việc tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam thì chị xin vào làm việc tại Công ty TNHH Seshin Việt Nam và được Công ty TNHH Seshin Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 8/2009 tại số sổ bảo hiểm 2509009017 nên có thời gian đóng trùng bảo hiểm với nhau. Nay chị xác định chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam nhưng lấy tên chị là vi phạm, do vậy chị yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam với chị Nguyễn Thị K nhưng lấy tên chị là Nguyễn Thị L tháng 5/2009 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009 số sổ bảo hiểm 2508015992 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P và chị đồng ý trả lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị K.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị K trình bày: Tháng 04/2009 khi đó chị chưa đủ 18 tuổi và cũng do chị không hiểu biết pháp luật, nên đã mượn của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 ở khu 4, xã T, thành phố V, tỉnh P một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam có địa chỉ: Khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P. Đến tháng 05/2009 thì Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam đã ký hợp đồng lao động với chị (nhưng lấy tên Nguyễn Thị L) và Công ty đóng bảo hiểm cho chị từ tháng 05/2009 đến tháng 10/2009 thì chị nghỉ việc không làm ở Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam nữa, số sổ bảo hiểm là T199602157 nay đã được cấp đổi thành số 2508015992. Trong thời gian chị làm việc ở Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam thì chị Nguyễn Thị L xin vào làm việc tại Công ty TNHH Seshin Việt Nam và được Công ty TNHH Seshin Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 8/2009 tại số sổ bảo hiểm 2509009017 nên có thời gian đóng trùng bảo hiểm với nhau.

Nay chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa chị (nhưng lấy tên Nguyễn Thị L) và Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam tháng 5/2009 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009 số sổ bảo hiểm 2508015992 theo sự tính toán của bảo hiểm xã hội tỉnh P chị hoàn toàn đồng ý và chị mong muốn được nhận lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là chị. Hiện nay do thời gian đã lâu nên chị không còn lưu giữ Hợp đồng lao động ký giữa chị dưới tên chị Nguyễn Thị L với Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P do ông Trần Anh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Qua rà soát bảo hiểm xã hội (BHXH) trên hệ thống phát hiện trường hợp chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 ở xã T, thành phố V, tỉnh P có 02 số sổ BHXH bị trùng thời gian đóng BHXH cụ thể:

Số sổ 1: Số tạm T199602157 sau được cấp đổi thành số 2508015992 có thời gian tham gia tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam, xã Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P.

Số sổ 2: 2509009017 được cấp tại Công ty TNHH Seshin Việt Nam, xã Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P.

Tháng 05/2009, chị Nguyễn Thị K (người mượn hồ sơ) đi làm tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam và tham gia BHXH theo mã số 2508015992. Thời điểm đó chị Nguyễn Thị L đang làm việc và có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Seshin Việt Nam theo mã số 2509009017.

Nay chị Nguyễn Thị L trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho chị Nguyễn Thị K mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể: Chị Nguyễn Thị K đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên Nguyễn Thị L để xin việc tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam. Trong thời gian chị Nguyễn Thị K làm việc dưới tên chị Nguyễn Thị L tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam thì chị Nguyễn Thị L đang làm việc tại Công ty TNHH Seshin Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam và làm việc tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam là chị Nguyễn Thị K.

Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao động ký hợp đồng lao động, công ty sẽ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc chị Nguyễn Thị L có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau.

Quan điểm của Bảo hiểm xã hội tỉnh P về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L như sau: Để đảm bảo quyền lợi cho chị Nguyễn Thị L đề nghị Toà án tuyên quyền lợi và nghĩa vụ của các bên như sau:

- Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.

- Đề nghị và yêu cầu cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH 2508015992, mang tên Nguyễn Thị L từ tháng 05/2009 đến tháng 10/2009 tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam, với tổng số tiền là: 1.077.300đ (Một triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm đồng).

Ngoài ra do công việc bận nên Bảo hiểm xã hội tỉnh P đề nghị được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam (nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam) do bà Nguyễn Thị Thu T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam; Địa chỉ: khu Công nghiệp Thụy Vân, xã Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P theo chứng nhận đầu tư số 182 043 000 040 thay đổi lần thứ nhất ngày 27/05/2015, trước đây là Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam. Tháng 04/2009 Công ty có ký hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị L, số CMND số: xxxxxxxxx, sinh năm 1990; địa chỉ: T, thành phố V, tỉnh P theo đúng quy định pháp luật. Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã tiến hành đóng Bảo hiểm xã hội cho chị L vào tháng 5/2009. Đến tháng 11/2009 chị L đã tự ý nghỉ việc tại Công ty. Hiện nay chị Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng lao động nêu trên vì theo chị L trình bày là có sự lừa dối: Cụ thể là chị Nguyễn Thị L cho chị Nguyễn Thị K, mượn hồ sơ để tuyển dụng vào Công ty làm việc. Thời điểm đó chị L đang làm tại Công ty TNHH Sheshin Việt Nam. Vì vậy, Công ty đề nghị Tòa án giải quyết việc lao động theo quy định pháp luật, thoái thu bảo hiểm xã hội, đảm bảo quyền lợi cho Công ty cũng như các đương sự khác. Công ty nhất trí số tiền thoái thu bảo hiểm được trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị K.

Hiện nay hồ sơ xin việc của công nhân thời điểm năm 2008 - 2010 Công ty không còn lưu giữ nên không cung cấp cho Tòa án hợp đồng lao động được. Ngoài ra do công việc bận nên đại diện Công ty xin được vắng mặt trong tất cả các phiên họp giải quyết vụ việc lao động nêu trên của Tòa án.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng phiên họp chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị L. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam (nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam) với chị Nguyễn Thị L tháng 5/2009 (do chị Nguyễn Thị K mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ và giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ là thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2508015992 cấp tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là: 1.077.300đ (Một triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm đồng) được trả lại cho chị Nguyễn Thị K. Chị Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P nhận định:

. Về tố tụng: Hợp đồng lao động chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết tại trụ sở Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam, nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam theo Giấy chứng nhận đầu tư thay đổi lần thứ nhất ngày 27/5/2015 của Ban quản lý các khu công nghiệp P có địa chỉ tại khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P. Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt tất cả các đương sự.

. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam, nay đổi tên thành Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam (theo Giấy chứng nhận đầu tư thay đổi lần thứ nhất ngày 27/5/2015 của Ban quản lý các khu công nghiệp P) và chị Nguyễn Thị L (do chị Nguyễn Thị K mượn hồ sơ) vào tháng 5/2009 là vô hiệu thấy rằng: Chị Nguyễn Thị K sử dụng hồ sơ của chị Nguyễn Thị L để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam là có sự lừa dối do người lao động ký kết hợp đồng không đúng chủ thể, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị L dẫn đến vi phạm quy định của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của chị Nguyễn Thị L là có căn cứ được chấp nhận.

Thời gian Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội cho chị Nguyễn Thị K (mượn tên chị Nguyễn Thị L) tại số sổ bảo hiểm là T199602157 nay đã được cấp đổi thành số 2508015992 từ tháng 05/2009 đến tháng 10/2009 thì cũng trong khoảng thời gian này chị Nguyễn Thị L đang làm việc tại Công ty TNHH SeShin Việt Nam và được Công ty TNHH SeShin Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số sổ 2509009017 nên đã dẫn đến có thời gian đóng trùng hai sổ bảo hiểm xã hội đều mang tên Nguyễn Thị L. Do Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam và chị Nguyễn Thị L (thực tế do chị Nguyễn Thị K ký) là vô hiệu, vì vậy phải giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu nên cần thoái thu toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009 của số sổ bảo hiểm 2508015992 là đúng và số tiền thoái thu này theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 1.077.300đ (Một triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm đồng) được trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị K là phù hợp.

. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50; Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị L. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam (nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam) với chị Nguyễn Thị L tháng 5/2009 (do chị Nguyễn Thị K mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 5/2009 đến tháng 10/2009 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2508015992 cấp tại Công ty TNHH Kee Eun Việt Nam (nay là Công ty TNHH Sein Together Kee Eun Việt Nam). Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 1.077.300đ (Một triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm đồng) trả lại cho chị Nguyễn Thị K.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị L đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005935 ngày 25/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ