vanban.org

Quyết định 15/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 27/08/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị N: Tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị Ngô Thị C1 là người ký kết) với người sử dụng lao …

Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Giao cho các cơ quan chức năng có liên quan điều chỉnh thông tin nhân thân tại sổ bảo hiểm số 3411002329 từ Ngô Thị N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình, số CMND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 30/4/2004 thành Ngô Thị C1, sin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "QĐ việc lao động Nguyệt-Ivory"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị N: Tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị Ngô Thị C1 là người ký kết) với người sử dụng lao …
  • Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƢ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2024/QĐST-LĐVũ Thư, ngày 27 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 17/2024/TLST-VLĐ ngày 14/8/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố Hợp động lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 17/2024/QĐ-MPH ngày 21/8/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Ngƣời yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị N, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

2. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Công ty TNHH I; Địa chỉ: K+500 đường A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Park Tae C, chức vụ: Tổng giám đốc.

2.2. Bảo hiểm xã hội tỉnh T; Địa chỉ: Số G, đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh T.

2.3. Chị Ngô Thị C1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(Các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 30/7/2024 và bản tự khai trong quá trình tố tụng, người yêu cầu - chị Ngô Thị N trình bày:

Chị là chị gái của chị Ngô Thị C1. Năm 2010, chị đã cho chị Ngô Thị C1 mượn giấy chứng minh nhân dân của chị để chị Ngô Thị C1 ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH I vào ngày 26/11/2010. Chị C1 đã làm việc tại Công ty TNHH I theo Hợp đồng lao động đến tháng 3/2013 thì chị C1 xin nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty, chị C1 tham gia bảo hiểm xã hội với tên Ngô Thị N theo số sổ 3411002329. Tháng 10/2011, chị N ký hợp đồng và làm việc cho Công ty TNHH M tại thành phố T đến tháng 3/2012 thì chị xin nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty, chị tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3409000827. Tháng 7 năm 2012, chị ký hợp đồng và làm việc cho Công ty TNHH T1 và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3412007135. Tháng 6/2023, chị xin nghỉ việc và xin chốt sổ bảo hiểm, tuy nhiên không thực hiện được do bảo hiểm xã hội mang tên chị có ba sổ và bị trùng thời điểm từ tháng 11/2010 đến tháng 02/2013. Để đảm bảo quyền lợi của chị và chị Ngô Thị C1, chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị Ngô Thị C1 là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I vô hiệu; đề nghị Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Công ty TNHH I trình bày: Thời gian từ ngày 26/11/2010 đến ngày 25/11/2011, Công ty TNHH I ký kết hợp đồng lao động với chị Ngô Thị N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình, số CMTND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 30/4/2004. Ngày 26/11/2011, Công ty ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm với chị Ngô Thị N, thời hạn đến 25/11/2012. Ngày 26/11/2012, Công ty ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với chị Ngô Thị N. Tháng 3/2013, chị N xin nghỉ việc tại Công ty và sau đó không ký thêm hợp đồng lao động nào khác với Công ty TNHH I. Quá trình làm việc tại Công ty, Công ty đã đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo số sổ 3411002329 cho chị Ngô Thị N. Thời điểm từ tháng 11/2010 đến tháng 02/2013, Công ty TNHH I không ký kết hợp đồng lao động với chị Ngô Thị C1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Việc chị Ngô Thị C1 lấy tên chị Ngô Thị N để ký kết hợp đồng lao động với Công ty, Công ty không biết. Đối với yêu cầu của chị Ngô Thị N, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội tỉnh T trình bày: Thời gian đóng BHXH, BHYT, BHTN của bà Ngô Thị N từ tháng 11/2010 đến tháng 02/2013 tại Công ty TNHH I theo số sổ BHXH số 3411002329 là 02 năm 04 tháng (đã hưởng BHXH một lần và chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp). Thời gian đóng BHXH, BHYT của bà Ngô Thị N từ tháng 9/2008 đến tháng 02/2012 tại Công ty TNHH M theo sổ BHXH số 3409000827 là 02 năm 06 tháng BHXH, BHYT và 01 năm 09 tháng BHTN (chưa hưởng BHXH một lần và đã hưởng trợ cấp thất nghiệp thời gian từ tháng 01/2009 đến tháng 9/2010, còn thời gian đóng BHTN từ tháng 10/2011 đến tháng 02/2012 chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp). Thời gian đóng BHXH, BHYT, BHTN của bà Ngô Thị N từ tháng 7/2012 đến tháng 6/2023 tại Công ty TNHH T1 theo sổ BHXH số 3412007135 là 11 năm BHXH, BHYT và 10 năm 06 tháng BHTN (chưa hưởng BHXH một lần và chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp). Nay bà Ngô Thị N đề nghị tuyên bố Hợp đồng lao động ký kết giữa bà Ngô Thị C1 nhưng lấy tên là Ngô Thị N với Công ty TNHH I trong khoảng thời gian từ tháng 11/2010 đến tháng 02/2013 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Bảo hiểm xã hội tỉnh đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Ngô Thị C1 trình bày: Năm 2010, do chưa đủ tuổi ký hợp đồng lao động nên chị đã mượn giấy chứng minh nhân dân của chị Ngô Thị N để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH I. Chị là người viết, ký vào hồ sơ xin việc mang tên chị Ngô Thị N. Chị làm việc tại Công ty TNHH I từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2013 thì nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty, chị tham gia bảo hiểm xã hội với tên chị Ngô Thị N theo số sổ 3411002329. Tháng 10/2011, chị N ký hợp đồng, làm việc cho Công ty TNHH M tại thành phố T và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3409000827. Tháng 7/2012, chị N ký hợp đồng làm việc tại Công ty TNHH T1 và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3412007135. Tháng 6/2023, chị N xin nghỉ việc và xin chốt sổ bảo hiểm xã hội nhưng không thực hiện được do bảo hiểm xã hội mang tên Ngô Thị N có ba sổ và bị trùng thời điểm từ tháng 11/2010 đến tháng 02/2013. Nay chị Ngô Thị N đề nghị tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I vô hiệu, đề nghị Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu, chị đề nghị Toà án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị: Đề nghị Tòa án căn cứ vào các Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 15, Điều 50, Điều 51 Bộ luật lao động 2019, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị N, đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị Ngô Thị C1 là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I là vô hiệu. Chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị C1 có quyền liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân trên sổ Bảo hiểm xã hội số 3411002329 từ Ngô Thị N thành Ngô Thị C1. Chị Ngô Thị N phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Người yêu cầu gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người lao động ký kết và thực hiện Hợp đồng lao động với Công ty TNHH I có địa chỉ trụ sở tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vì vậy Tòa án huyện V, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về việc áp dụng pháp luật: Hợp đồng lao động mà chị Ngô Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết vào năm 2010, 2011 và năm 2012 khi Bộ luật Lao động năm 1994 đang có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, do Bộ luật Lao động năm 1994 không có điều luật quy định về hợp đồng lao động vô hiệu. Do đó Tòa án căn cứ các quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019 để giải quyết yêu cầu của chị Ngô Thị N trong việc dân sự này.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của chị Ngô Thị N đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị Ngô Thị C1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu, thì thấy: Việc chị Ngô Thị C1 mượn giấy tờ (Giấy chứng minh nhân dân) của chị Ngô Thị N, nhận mình là chị Ngô Thị N để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH I là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, do đó yêu cầu của chị Ngô Thị N là có căn cứ chấp nhận. Cần tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị Ngô Thị C1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.

Đối với yêu cầu của chị Ngô Thị N đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, xét thấy: Mặc dù có sự lừa dối khi ký kết hợp đồng lao động giữa chị Ngô Thị C1 (Hồ sơ mang tên Ngô Thị N) với Công ty TNHH I nhưng trên thực tế chị Ngô Thị C1 có làm việc tại Công ty, có đóng bảo hiểm xã hội và quá trình làm việc Công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho chị Ngô Thị C1 (mang tên Ngô Thị N, số sổ là 3411002329). Do vậy cần giao cho các cơ quan chức năng có liên quan đến Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH I và chị Ngô Thị N (do chị Ngô Thị C1 là người ký kết) điều chỉnh tên Ngô Thị N trên sổ Bảo hiểm xã hội số 3411002329 thành Ngô Thị C1. Chị Ngô Thị N và Ngô Thị C1 có quyền liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Ngô Thị N thành Ngô Thị C1.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 372, Điều 401, Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị N: Tuyên bố Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2010; Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2011 và Hợp đồng lao động số 6372 ngày 26/11/2012 ký kết giữa người lao động là Ngô Thị N (nhưng do chị Ngô Thị C1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.

2. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Giao cho các cơ quan chức năng có liên quan điều chỉnh thông tin nhân thân tại sổ bảo hiểm số 3411002329 từ Ngô Thị N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình, số CMND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 30/4/2004 thành Ngô Thị C1, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27/8/2021. Chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị C1 có quyền liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Ngô Thị N thành Ngô Thị C1.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Ngô Thị N đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001723 ngày 14/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V thành tiền lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Ngô Thị N, Công ty TNHH I, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình, chị Ngô Thị C1 có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định này./.

Cỡ chữ