vanban.org

Quyết định 149/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

117, 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015); của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Kim H"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 149/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân Khu vực 16 - Thành phố

Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 87/2025/TLST-VLĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 120/2025/QĐST-LĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1992; địa chỉ thường

trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã S, tỉnh Vĩnh Long); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q; địa chỉ: số A, đường T, khu công nghiệp

S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện hợp pháp: Ông CHU YING PIAO – chức vụ: Tổng Giám

đốc; vắng mặt.

2.Bà Ngô Thị Hồng N; sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: số E, phường Đ,

thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở Dĩ An - Bảo hiểm xã hội Thành phố H; địa chỉ:

đường T, khu T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

1.Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết vụ việc, người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013, bà

Nguyễn Thị Kim H đang làm việc tại Công ty TNHH T và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 8611007361. Năm 2024, bà H đi làm thủ tục tại bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào thời điểm đó, bà H cho bà Ngô Thị Hồng N (là hàng xóm của bà H) mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH Q. Quá trình làm việc, bà N được Công ty TNHH Q tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7412278023. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà N mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà N có công việc để trang trải cuộc sống nên bà H mới cho mượn giấy tờ tùy thân.

Bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa người

có tên Nguyễn Thị Kim H với Công ty TNHH Q trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 vô hiệu. Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

2. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan Công ty TNHH Q: Công ty không có người lao động tên Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cũng như người lao động tên Ngô Thị Hồng N, sinh năm 1995; địa chỉ: số E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Hồng N:

bà N và bà H là hàng xóm. Khoảng tháng 10 năm 2012, bà N không có chứng minh nhân dân nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà H để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Q và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7412278023. Nay bà N thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà H và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa người có tên Nguyễn Thị Kim H với Công ty TNHH Q trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q thì bà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm gì, bà cũng không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà H. Bà N không yêu cầu gì khác.

4. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan Bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) cơ sở D trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT),

bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH Q cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1992, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7412278023 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 tại Công ty TNHH Q, chưa nhận BHXH một lần. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Dĩ An còn phát hiện bà Nguyễn Thị Kim H còn có mã số 8611007361 từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 7 năm 2022 tại Công ty TNHH T. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Nguyễn Thị Kim H và Công ty TNHH Q, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Ngoài ra, BHXH cơ sở D không có yêu cầu gì khác.

4. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố

Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim H là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim H; người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty V có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim H:

Trong thời gian từ tháng tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013,

người lao động tên Nguyễn Thị Kim H giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q và được Công ty này tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7412278023. Tuy nhiên, bà H xác nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q và thực tế làm việc tại Công ty T1 khoảng thời gian nêu trên là bà N (là hàng xóm của bà H), do bà H cho bà N mượn chứng minh nhân dân). Công ty TNHH Q cho rằng không có người lao động tên Nguyễn Thị Kim H có thông tin như trên làm việc tại Công ty, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bà H và bà N, phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở D, có căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013, Công ty TNHH Q có người lao động với hồ sơ mang tên Nguyễn Thị Kim H và hàng tháng Công ty có đóng bảo hiểm với mã số 7412278023 cho người này.

Xét thấy: lời khai của bà H và bà N phù hợp với xác nhận của Bảo

hiểm xã hội cơ sở Dĩ An vì trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013, bà H đang làm việc tại công ty khác và có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm khác. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH Q trong khoảng thời gian từ tháng tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 là bà N, không phải là bà H.

Theo Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 và khoản 1 Điều 15 của

Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.”; “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”;“Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.

Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao

động tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019

về hợp đồng lao động vô hiệu thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà N mượn hồ sơ cá nhân của bà H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412278023 từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 tại Công ty TNHH Q là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà H về

việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Kim H (do bà Ngô Thị Hồng N là chủ thể trực tiếp ký kết) với bị đơn Công ty TNHH Q theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412278023 từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 bị vô hiệu.

[2.5] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét

yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu": Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H và ý kiến của bà H về việc xác định người lao động làm việc tại Công ty TNHH Q trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 01 năm 2013 là bà N, không phải là bà Nguyễn Thị Kim H. Bà H và bà N có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412278023.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố

Hồ Chí Minh là phù hợp.

Về lệ phí: bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn

đồng) lệ phí việc lao động.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 122, 132, 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (các điều

117, 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);

- Căn cứ Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 (các điều 15, 16, 49, 50 và

Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019);

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị

Kim H.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Kim H với Công ty

TNHH Q (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412278023) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412278023 không

phải là bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1992, giới tính: nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị Kim H và bà Ngô Thị Hồng N được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412278023.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu

300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0003138 ngày 11/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ