- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Mộng L tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 136/2025/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 27 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Kiều Thị Uyên.
Thư ký phiên họp: Bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 134/2025/VLĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 34/2025/VLĐ-ST ngày 23 tháng 6 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Bà Lê Thị Thùy A, sinh năm: 1976; thường trú: Số A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Lệ T, sinh năm 1977; thường trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, thành phố B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH N; địa chỉ: Số B Đại lộ T, KCN S, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
3. Bảo hiểm xã hội tỉnh B (nay là Bảo hiểm xã hội khu vực XXVII); địa chỉ: Số E, đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 30/5/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng người yêu cầu bà Lê Thị Thùy A trình bày:
Từ tháng 4/1998 đến tháng 6/2006, bà Lê Thị Thùy A có làm việc tại Công ty TNHH M, địa chỉ: số D, đường T, phường T, khu phố A, phường T, Quận A, Tthành phố H và từ tháng 7/2006 đến tháng 02/2007 bà Lê Thị Thùy A làm việc tại Công ty TNHH M1 và có đóng bảo hiểm xã hội số: 0299105760. Đến nay, bà A tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì bên Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của ông bị trùng.
Lý do bị trùng bảo hiểm: là do chị chồng của bà A tên Lê Thị Lệ T, sinh năm 1977 sử dụng thông tin của bà để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH N từ tháng 01/2003 đến tháng 10/2006, có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 9103049998. Đồng thời, trong thời gian đó, bà A giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M.
Do đó, bà A bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 01/2003 đến tháng 10/2006 tương đương với thời gian bà Lê Thị Lệ T mượn hồ sơ lao động của bà A.
Vào thời điểm năm 2003, bà Lê Thị Lệ T không có đủ hồ sơ nên không đủ điều kiện để ứng tuyển lao động. Bà Lê Thị Lệ T là chị chồng của bà A nên bà A đã hỗ trợ bà Lê Thị Lệ T mượn thông tin cá nhân làm hồ sơ lao động. Vì không hiểu biết về pháp luật, chỉ nghĩ đến cách tìm kế sinh nhai nên mới để lại hậu quả pháp lý như ngày hôm nay.
Vì vậy, nay bà Lê Thị Thùy A có yêu cầu: Tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Thùy A (do bà T mượn hồ sơ) và Công ty TNHH N vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH N:
Đã được tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống đạt Quyết định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Lê Thị Thùy A, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết việc lao động.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội khu vực XXVIIIcó văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng tại Công văn số 556/BHXH-VP ngày 20/6/2025 trình bày:
Bảo hiểm xã hội khu vực XXVII sẽ thực hiện điều chỉnh quy trình điều chỉnh nhân thân do mượn hồ sơ người khác tham gia bảo hiểm xã hội sau khi có quyets định của Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Thùy A và Công ty TNHH N nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Lệ T trình bày:
Bà Lê Thị Lệ T là chị chồng của bà Lê Thị Thùy A, vào thời điểm tháng 2003, bà T không đủ giấy tờ để ứng tuyển lao động, do không hiểu biết về mặt pháp luật nên bà T đã mượn hồ sơ và thông tin cá nhân của bà A để làm hồ sơ lao động.
Bà T đã mượn thông tin cá nhân của bà A và đã làm việc tại Công ty TNHH N khoảng từ tháng 01/2003 đến tháng 10/2006, sau đó bà T nghỉ việc tại Công ty TNHH N.
Vì vậy, bà T đã bị đóng trùng bảo hiểm từ tháng 01/2003 đến tháng 10/2006.
Nay, đối với yêu cầu của bà Lê Thị Thùy A về việc tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Thùy A và Công ty TNHH N vô hiệu thì bà T đồng ý.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thùy A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Thùy A, bà Lê Thị Lệ T, Đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội khu vực XXVIII có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Công ty TNHH N vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
Về nội dung: Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: trong thời gian từ tháng 01/2003 đến tháng 10/2006, người lao động tên Lê Thị Thùy A, sinh năm 1976, số CCCD xxxxxxxxxxxx, được Công ty TNHH N tham gia BHXH, BHYT, BHTN với mã số BHXH 9103049998. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH N và bà Lê Thị Thùy A phát sinh từ hợp đồng lao động tháng 01/2003 đến tháng 10/2006. Tuy nhiên, bà Lê Thị Thùy A và bà Lê Thị Lệ T thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH N và thực tế làm việc tại Công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 01/2003 đến tháng 10/2006 theo hợp đồng lao động là bà Lê Thị Lệ T, không phải bà Lê Thị Thùy A, do bà T mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà A để đi làm việc. Đối với bà A trong thời gian này đang thực tế làm việc tại Công Ty TNHH M, sau đó là Công ty TNHH M1 có mã số bảo hiểm xã hội là 0299105760. Mục đích mượn giấy tờ là để bà T có việc làm do thời gian này bà T không đủ hồ sơ để ứng tuyển lao động. Trình bày của bà A và bà T phù hợp với biên bản làm việc ngày 13/02/2025 của Bảo hiểm xã hội tỉnh B thể hiện trong thời gian từ tháng 01/2003 đến tháng 10/2006 bà Lê Thị Thùy A có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH N và từ tháng 04/1998 đến tháng 06/2006 bà Lê Thị Thùy A có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH M và từ tháng 7/2006 đến tháng 02/2007 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH M1. Xét thấy việc bà T lấy tên bà A để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006. Do đó việc bà Lê Thị Thùy A yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Thùy A (do bà Lê Thị Lệ T mượn tên) với Công ty TNHH N là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: bà Lê Thị Thùy A phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006;
Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005
Căn cứ Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006;
Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005
Căn cứ Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lê Thị Thùy A.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa Bà Lê Thị Thùy A, sinh năm 1976; thường trú: Số A, khu phố Đ, phường T, thành phố, D, tỉnh Bình Dương (do bà Lê Thị Lệ T ký kết) với Công ty TNHH N vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Lê Thị Thùy A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0008471 ngày 02/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - Các đương sự (04); - Lưu :VT, hồ sơ vụ án (02). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Kiều Thị Uyên |