vanban.org

Quyết định 135/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

117, 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015); của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Ngọc G"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 135/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Bùi Phương Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân Khu vực 16 - Thành phố

Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 202/2025/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 104/2025/QĐST-LĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1990; địa chỉ thường

trú: ấp B, xã B, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Đặng Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: số

E, T.6, K, chung cư L, đường D, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn T (Việt Nam); địa chỉ: khu phố H, phường

T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Nguyễn Thị H1; sinh năm: 1993; địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp S, xã M,

tỉnh An Giang; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L – Bảo hiểm xã hội Thành phố H; địa chỉ: đường

N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình

giải quyết vụ việc, bà Nguyễn Thị Ngọc G trình bày:

Trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012, bà

Nguyễn Thị Ngọc G đang làm việc tại Công ty P và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 7411166903. Năm 2024, bà G đi làm thủ tục tại bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào thời điểm đó, bà G cho bà Nguyễn Thị H1 (là em họ của bà G) mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH T (Việt Nam). Quá trình làm việc, bà H1 được Công ty TNHH T (Việt Nam) tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7410138238. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà H1 mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH T (Việt Nam) là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà H1 có công việc để trang trải cuộc sống nên bà G mới cho mượn chứng minh nhân dân.

Bà G yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa người

có tên Nguyễn Thị Ngọc G với Công ty TNHH T (Việt Nam) trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 vô hiệu. Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T (Việt Nam) đã

được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập để tham gia phiên họp nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty vắng mặt không rõ lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà G cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1:

bà H1 và bà G là chị em họ. Khoảng tháng 5 năm 2010, bà H1 không đủ hồ sơ xin việc nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà G để xin vào làm việc tại Công ty TNHH T (Việt Nam) và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7410138238. Nay bà H1 thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà G và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa người có tên Nguyễn Thị Ngọc G với Công ty TNHH T (Việt Nam) trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty TNHH T (Việt Nam) thì bà H1 đã nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần, bà H1 không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà G. Bà H1 không yêu cầu gì khác.

4. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan Bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) cơ sở L trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT),

bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH T (Việt Nam) cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị Ngọc G sinh năm 1990, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7410138238 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 tại Công ty TNHH T (Việt Nam), đã nhận BHXH một lần. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Lái Thiêu còn phát hiện bà Nguyễn Thị Ngọc G còn có mã số 7411166903 từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012 tại Công ty TNHH P. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Nguyễn Thị Ngọc G và Công ty TNHH T (Việt Nam), đề nghị Tòa án căn cứ Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Ngoài ra, BHXH cơ sở L không có yêu cầu gì khác.

5. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố

Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc G là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc G; người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc G:

Trong thời gian từ tháng tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011,

người lao động tên Nguyễn Thị Ngọc G giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH T (Việt Nam) và được Công ty này tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7410138238. Tuy nhiên, bà G xác nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH T (Việt Nam) và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng thời gian nêu trên là bà H1 (em họ của bà G), do bà G cho bà H1 mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy: lời khai của bà G và bà H1 phù hợp với xác nhận của Bảo

hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu vì trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011, bà G đang làm việc tại các công ty khác và có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm khác. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH T (Việt Nam) trong khoảng thời gian từ tháng tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 là bà H1, không phải là bà G.

Theo Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 và khoản 1 Điều 15 của

Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.”; “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”;“Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.

Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao

động tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019

về hợp đồng lao động vô hiệu thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà H1 mượn hồ sơ cá nhân của bà G để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410138238 từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 tại Công ty TNHH T (Việt Nam) là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà G về

việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Ngọc G (do bà Nguyễn Thị H1 là chủ thể trực tiếp ký kết) với bị đơn Công ty TNHH T (Việt Nam) theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410138238 từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 bị vô hiệu.

[2.5] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét

yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu": Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà G và ý kiến của bà G về việc xác định người lao động làm việc tại Công ty TNHH T (Việt Nam) trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 là bà H1, không phải là bà Nguyễn Thị Ngọc G. Bà G và bà H1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410138238.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố

Hồ Chí Minh là phù hợp.

Về lệ phí: bà Nguyễn Thị Ngọc G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm

nghìn đồng) lệ phí việc lao động.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 122, 132, 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (các điều

117, 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);

- Căn cứ Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 (các điều 15, 16, 49, 50 và

Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019);

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị

Ngọc G.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Ngọc G với Công ty

TNHH T (Việt Nam) (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410138238) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410138238 không

phải là bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1990, giới tính: nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị Ngọc G và bà Nguyễn Thị H1 được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410138238.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị Ngọc G phải

chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0007622 ngày 05/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ