vanban.org

Quyết định 134/2025/QĐ-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các cứ vào Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị H. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, số CCCD xxxxxxxxxxxx, mã số BHXH 7410177102 với Công ty TNHH T2 vô hiệu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Các cứ vào Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Số: 134/2025/QĐST-VLĐ
Dĩ An, ngày 27 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị Thu Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 140/2025/TLST-VLĐ, ngày 18/6/2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 32/2025/QĐST-VLĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; thường trú: thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; thường trú: thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH T2; địa chỉ: số B, đường D, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp của công ty: ông Khương Thanh P – chức vụ: Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường T, Khu T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền số 105/UQ-BHXH ngày 20/6/2025. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Tại đơn yêu cầu và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị H trình bày: Từ tháng 02/2009 đến tháng 02/2010 và từ tháng 7/2010 đến tháng 5/2011, bà H làm việc tại Công ty TNHH O, địa chỉ: Số B đường D, khu công nghiệp S, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương và có đóng bảo hiểm xã hội lần lượt số 3821406707 và số 7410225656. Nay, bà H liên hệ Bảo hiểm xã hội tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì bên Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà bị trùng thời gian đóng BHXH.

Lý do bị trùng bảo hiểm: Do lúc trước chưa hiểu rõ thông tin về vấn đề đóng Bảo hiểm xã hội nên bà H có cho em gái là bà Nguyễn Thị T mượn thông tin cá nhân của bà để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH T2 từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010, có đóng BHXH số 7410177102; trong thời gian này, bà H vẫn đang ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH O. Vì vậy, bà H bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010, tương đương thời gian bà Nguyễn Thị T mượn hồ sơ của bà H. Do đó, bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà H (do bà Nguyễn Thị T mượn thông tin cá nhân) với Công ty TNHH T2 là vô hiệu. Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì bà H không yêu cầu giải quyết.

- Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: bà T là em gái của bà Nguyễn Thị H, vào thời điểm từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010 do không hiểu biết về mặt pháp luật nên bà T đã mượn thông tin cá nhân của bà Nguyễn Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH T2 và trực tiếp làm việc tại Công ty này, có đóng BHXH số: 7410177102. Trong thời gian này, bà H cũng đang làm việc tại Công ty TNHH O, nên bị trùng bảo hiểm xã hội. Nay, bà H yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động giữa bà H (do bà T mượn thông tin cá nhân) với Công ty TNHH T2 là vô hiệu thì bà T đồng ý. Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì bà T không yêu cầu giải quyết.

- Quá trình tố tụng, Công ty TNHH T2 không cung cấp cho Toà án ý kiến đối với việc yêu cầu của bà Phạm Thị H1 và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng

- Ông Dương Văn T1 là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH T2 cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7410177102, có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010, chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, BHXH thành phố D còn phát hiện bà Nguyễn Thị H còn có mã số 7410225656 từ tháng 7/2010 đến tháng 12/2010 tại Công ty TNHH O.

Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Nguyễn Thị H và Công ty TNHH T2, thì đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Dĩ An căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/ND-CP quy định về việc xử hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị H, thì Cơ quan BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Nguyễn Thị H thì Cơ quan BHXH không có ý kiến.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: bà H, bà T, Bảo hiểm xã Hội thành phố D có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Công ty TNHH T2 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Quá trình tố tụng các đương sự thống nhất khai: Trong thời gian từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010, người lao động bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, số CCCD xxxxxxxxxxxx với Công ty TNHH T2 có ký hợp đồng lao động và được Công ty T3, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7410177102. Tuy nhiên, bà H và bà T thừa nhận người ký hợp đồng lao động và thực tế làm việc tại Công ty TNHH T2 là bà Nguyễn Thị T chứ không phải bà Nguyễn Thị H, do thời điểm ký hợp đồng không hiểu biết về mặt pháp luật nên đã mượn thông tin cá thân của bà H để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH T2. Đồng thời, bản thân bà H trong thời gian từ tháng 7/2010 đến tháng 12/2010 đang ký hợp đồng lao động và trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH O. Khi ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH T2 bà T không khai rõ thông tin về việc bà T mượn thông tin của bà H để ký hợp đồng với công ty nên Công ty TNHH T2 không hề hay biết sự việc này. Lời trình bày của bà H và bà T cũng phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội D, Bình Dương và các sổ BHXH bà H cung cấp trong hồ sơ vụ việc. Xét thấy, việc bà T lấy thông tin cá nhân của bà H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH T2 là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006. Do đó, bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động ký kết giữa bà Nguyễn Thị H (do bà Nguyễn Thị T mượn tên) với Công ty TNHH T2 là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Về lệ phí: bà Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều: 15, 16, 49 của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ vào các Điều: 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các cứ vào Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, số CCCD xxxxxxxxxxxx, mã số BHXH 7410177102 với Công ty TNHH T2 vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0004748 ngày 13/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ