- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Thu H"
- Tòa quyết gì? 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 133/2025/QĐST-LĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Bùi Phương Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân Khu vực 16 - Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 200/2025/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 102/2025/QĐST-LĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú:
số A, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH H1; địa chỉ: khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: ông S YAO CHANG; có yêu cầu giải quyết vắng
mặt.
2. Bảo hiểm xã hội cơ sở L – Bảo hiểm xã hội Thành phố H; địa chỉ: đường
N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết vụ việc, bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 10 năm 2007, bà
Nguyễn Thị Thu H làm việc tại Công ty TNHH U và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 9105044191. Năm 2024, bà H đi làm thủ tục tại bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào thời điểm đó, bà H cho một người quen ở chung dãy trọ mượn mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH H1, do thời gian đã lâu nên bà H không nhớ rõ họ tên cũng như thông tin của người này. Quá trình làm việc, người đó được Công ty TNHH H1 tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 9106227104. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho người đó mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H1 là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho người đó có công việc để trang trải cuộc sống nên bà H mới cho mượn giấy tờ tùy thân.
Bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa người có
tên Nguyễn Thị Thu H với Công ty TNHH H1 vô hiệu. Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
2. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Công ty TNHH H1: Công ty TNHH H1 luôn tuân thủ quy định pháp luật lao động của Việt Nam, đặc biệt là việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động luôn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Lao động. Khi người lao động vào làm việc tại Công ty, Công ty T về giao kết hợp đồng lao động với người lao động và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định. Việc người lao động tự ý cho người khác mượn hồ sơ cá nhân lao động sau đó vào Công ty để làm việc là việc người lao động làm trái quy định của pháp luật lao động, cung cấp không trung thực thông tin cho Công ty nhằm giao kết hợp đồng lao động với Công ty, việc này hoàn toàn không phải lỗi của Công ty. Vì vậy, để tạo điều kiện cho người lao động thực hiện việc hủy bỏ quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bằng cách tuyên bố hợp đồng lao động giữa Công ty với người lao động vô hiệu là việc làm theo quy định của pháp luật, Công ty chấp nhận tuân thủ theo quy định của pháp luật và yêu cầu của bà H. Công ty không có yêu cầu gì khác.
3. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) cơ sở L trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH H1 cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1986, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 9106227104 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng tháng 12 năm 2006 đến tháng 8 năm 2009 tại Công ty TNHH H1, đã nhận BHXH một lần vào ngày 07/9/2010. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Lái Thiêu còn phát hiện bà Nguyễn Thị Thu H còn có mã số 9105044191 từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 10 năm 2007 tại Công ty TNHH U. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Nguyễn Thị Thu H và Công ty TNHH H1 - Nhà Máy H1, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Ngoài ra, BHXH cơ sở L không có yêu cầu gì khác.
4. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu H là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H1 và B cơ sở L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu H:
Trong thời gian từ tháng tháng 12 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007,
người lao động tên Nguyễn Thị Thu H giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H1 và được Công ty này tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 9106227104. Tuy nhiên, bà H xác nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH H1 và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng thời gian nêu trên là một người khác (người này ở chung dãy trọ với bà H và được bà H cho mượn chứng minh nhân dân).
Xét thấy: lời khai của bà H phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội
cơ sở Lái Thiêu vì trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 10 năm 2007, bà H đang làm việc tại công ty khác và có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm khác. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH H1 trong khoảng thời gian từ tháng tháng 12 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007 là một người khác, không phải là bà H.
Theo Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 và khoản 1 Điều 15 của
Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.”; “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”;“Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.
Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động
tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019 về
hợp đồng lao động vô hiệu thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc người khác mượn hồ sơ cá nhân của bà H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm xã hội số 9106227104 từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007 tại Công ty TNHH H1 - Nhà Máy H1 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà H về việc
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Thu H (do một người khác là chủ thể trực tiếp ký kết) với bị đơn Công ty TNHH H1 theo sổ bảo hiểm xã hội số 9106227104 từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007 bị vô hiệu.
[2.5] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu": Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H và ý kiến của bà H về việc xác định người lao động làm việc tại Công ty TNHH H1 trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007 là một người khác, không phải là bà Nguyễn Thị Thu H. Bà H có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 9106227104.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ
Chí Minh là phù hợp.
Về lệ phí: bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) lệ phí việc lao động.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;
Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 122, 132, 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (các điều 117,
122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Căn cứ Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 (các điều 15, 16, 49, 50 và
Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019);
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị Thu
H.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Thu H với Công ty TNHH
H1 (theo sổ bảo hiểm xã hội số 9106227104) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 9106227104 không phải
là bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1986, giới tính: nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị Thu H được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 9106227104.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0007688 ngày 05/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 16 – Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Ngân |