- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Chị Lụa yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị Bích L. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may P với chị Lê Thị Bích L tháng 5/2010 (do chị Trần Ngọc A mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2025/QĐST-LĐ | V, ngày 04 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“Về việc: Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị H.
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hương Gi - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2025/TLST-LĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 19/2025/QĐST-LĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Chị Lê Thị Bích L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Khu 01, xã K, thành phố V, tỉnh Ph.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bảo hiểm xã hội tỉnh P.
Địa chỉ: Đường N, phường T, thành phố V, tỉnh P;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Quốc Th; Chức vụ: Trưởng phòng quản lý thu - sổ thẻ và ông Trần Anh T; Chức vụ: Chuyên viên phòng quản lý thu - sổ thẻ. (Theo giấy ủy quyền ngày 02/01/2024).
2. Công ty cổ phần may P;
Địa chỉ: Số 469, đường Ng, phường D, thành phố V, tỉnh P;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc P; Chức vụ: Nhân viên nhân sự. (Theo giấy ủy quyền ngày 23/5/2025).
3. Chị Trần Ngọc Á, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Khu 2, xã K, thành phố V, tỉnh P.
(Các đương sự đều xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai chị Lê Thị Bích L trình bày: Tháng 5/2010 do không hiểu biết pháp luật, chị có cho chị Trần Ngọc Á, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khu 2, xã K, thành phố V, tỉnh P mượn một bộ hồ sơ xin việc mang tên chị là Lê Thị Bích L để xin vào làm việc tại Công ty Cổ phần may P có địa chỉ tại số 469 Nguyễn Du, phường D, thành phố V, tỉnh P. Sau khi vào làm việc thì chị A và Công ty Cổ phần may P đã ký kết hợp đồng lao động mang tên chị là Lê Thị Bích L. Chị A đã làm việc tại Công ty Cổ phần may P và được đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật với mã số bảo hiểm xã hội 2510006912 từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 thì thôi việc. Trong khoảng thời gian này, chị cũng làm việc và đóng bảo hiểm xã hội theo mã số bảo hiểm 2510009068 tại Công ty Cổ phần Sung Woon international Việt Nam. Đến nay chị được cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P thông báo chị đã bị trùng đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010, lý do là có một hợp đồng lao động mang tên Lê Thị Bích L đã đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam. Nay chị xác định việc cho chị Trần Ngọc A mượn hồ sơ xin việc là không đúng và trái quy định của pháp luật, vì vậy chị làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy hợp đồng lao động ký giữa Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam với chị Trần Ngọc A nhưng lấy tên chị là Lê Thị Bích L tháng 5/2010 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 tại số sổ bảo hiểm 2510006912 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P và chị đồng ý trả lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là chị Trần Ngọc A.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Ngọc A trình bày: Khoảng tháng 5/2010 do chị không hiểu biết pháp luật, nên đã mượn của chị Lê Thị Bích L một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam có địa chỉ tại số 469 Nguyễn Du, phường D, thành phố V, tỉnh P. Sau khi vào làm việc Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam đã ký hợp đồng lao động với chị nhưng lấy tên chị Lê Thị Bích L và Công ty đã đóng bảo hiểm cho chị từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 thì chị xin nghỉ việc không làm ở Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam nữa, số sổ bảo hiểm là 2510006912. Trong thời gian chị làm việc ở Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam thì chị Lê Thị Bích L đang làm việc tại Công ty Cổ phần Sung Woon international Việt Nam và được Công ty Cổ phần Sung Woon international Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số sổ bảo hiểm 2510009068 nên có thời gian đóng trùng bảo hiểm với nhau. Nay chị Lê Thị Bích L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa chị nhưng lấy tên chị Lê Thị Bích L và Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam tháng 5/2010 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 số sổ bảo hiểm 2510006912 theo sự tính toán của bảo hiểm xã hội tỉnh P chị hoàn toàn đồng ý và chị mong muốn được nhận lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là chị. Hiện nay do thời gian đã lâu nên chị không còn lưu giữ Hợp đồng lao động ký giữa chị dưới tên chị Lê Thị Bích L với Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam nên không thể nộp cho Tòa án được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P do ông Trần Anh Tuấn là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Qua rà soát bảo hiểm xã hội (BHXH) trên hệ thống, Bảo hiểm xã hội tỉnh P phát hiện trường hợp bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1991 ở xã Kim Đức, thành phố V, tỉnh P có 02 số sổ BHXH bị trùng thời gian tham gia BHXH, cụ thể:
Số sổ 01: 2510006912 được cấp tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam, phường D, thành phố V, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010.
Số sổ 02: 2510009068 được cấp tại Công ty cổ phần Sung Woon international Việt Nam, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 02/2010 đến tháng 3/2024.
Tháng 05/2010, bà Trần Ngọc A (người mượn hồ sơ) đi làm tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam và tham gia BHXH theo mã số BHXH 2510006912. Thời điểm đó bà Lê Thị Bích L đang làm việc và có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty cổ phần Sung Woon international Việt Nam theo mã số BHXH 2510009068.
Nay bà Lê Thị Bích L trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho bà Trần Ngọc A mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể: Bà Trần Ngọc A đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên Lê Thị Bích L để xin việc tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Trong thời gian bà Trần Ngọc A làm việc dưới tên Lê Thị Bích L tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam thì bà Lê Thị Bích L đang làm việc tại Công ty cổ phần Sung Woon international Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam và làm việc tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam là bà Trần Ngọc A.
Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao động ký hợp đồng lao động, công ty sẽ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc bà Lê Thị Bích L có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau.
Quan điểm của Bảo hiểm xã hội tỉnh P về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích L như sau:
- Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích L.
- Đề nghị và yêu cầu cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH 2510006912, mang tên Lê Thị Bích L từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam, với tổng số tiền là: 698.880đ (sáu trăm chín mươi tám nghìn tám trăm tám mươi đồng).
Ngoài ra do công việc bận nên Bảo hiểm xã hội tỉnh P đề nghị được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam do ông Phạm Ngọc Phú là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Tháng 05/2010, Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam có ký hợp đồng lao động với chị Lê Thị Bích L. Sau khi ký Hợp đồng lao động Công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho chị Lê Thị Bích L từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 thì chị L xin nghỉ việc, số sổ bảo hiểm xã hội là 2510006912 tại Cơ quan bảo hiểm tỉnh P. Đến nay, chị Lê Thị Bích L có đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động ký tháng 5/2010 giữa Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam với chị Lê Thị Bích L là vô hiệu do có sự lừa dối với lý do chị không hiểu biết pháp luật nên đã cho chị Trần Ngọc A mượn một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Khi ký Hợp đồng lao động với Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam, chị Trần Ngọc A đã lấy tên của chị Lê Thị Bích L và Công ty đã đóng bảo hiểm cho Lê Thị Bích L (nhưng người lao động thực tế là chị Trần Ngọc A) tại số sổ bảo hiểm 2510006912 từ tháng 5/2011 đến tháng 7/2010. Cũng trong thời gian này chị Lê Thị Bích L làm việc tại Công ty cổ phần Sung Woon international Việt Nam và được Công ty cổ phần Sung Woon international Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số sổ bảo hiểm 2510009068 nên có thời gian đóng trùng bảo hiểm với nhau.
Nay chị Lê Thị Bích L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa chị Lê Thị Bích L (do chị Trần Ngọc A mượn hồ sơ) và Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam tháng 5/2010 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 số sổ bảo hiểm là 2510006912.
Quan điểm của Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam: Công ty đồng ý Hợp đồng lao động ký tháng 5/2010 giữa Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam và chị Lê Thị Bích L (thực tế do chị Trần Ngọc A ký) là vô hiệu. Công ty cũng nhất trí với số tiền thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 5/2010 đến tháng 10/2010 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P và số tiền thoái thu này được trả lại cho người lao động thực tế là chị Trần Ngọc A. Do khi người lao động nghỉ việc nên Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam đã trả lại hồ sơ xin việc cho công nhân nên không còn lưu giữ bản Hợp đồng lao động nào. Ngoài ra do công việc bận nên Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam xin được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc nêu trên của Tòa án.
* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng phiên họp chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị Bích L. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam với chị Lê Thị Bích L từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 (do chị Trần Ngọc A mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ và giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ là thoái thu thời gian đóng bảo hiểm tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2510006912 cấp tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 698.880đ (sáu trăm chín mươi tám nghìn tám trăm tám mươi đồng) được trả lại cho chị Trần Ngọc A. Chị Lê Thị Bích L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P nhận định:
. Về tố tụng: Hợp đồng lao động chị Lê Thị Bích L yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết tại trụ sở Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam có địa chỉ số 469 Nguyễn Du, phường D, thành phố V, tỉnh P. Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt tất cả các đương sự.
. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty cổ phần may P và chị Lê Thị Bích L (do chị Trần Ngọc A mượn hồ sơ) vào tháng 5/2010 là vô hiệu thấy rằng: Chị Trần Ngọc A sử dụng hồ sơ của chị Lê Thị Bích L để ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam là có sự lừa dối do người lao động ký kết hợp đồng không đúng chủ thể, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lê Thị Bích L dẫn đến vi phạm quy định của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của chị Lê Thị Bích L là có căn cứ được chấp nhận.
Thời gian Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội cho chị Trần Ngọc A (mượn tên chị Lê Thị Bích L) tại số sổ bảo hiểm 2510006912 tháng 10/2010 thì cũng trong khoảng thời gian này chị Lê Thị Bích L đang làm việc tại Công ty Cổ phần Sung Woon international Việt Nam và được Công ty Cổ phần Sung Woon international Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số 2510009068 nên đã có thời gian đóng trùng hai sổ bảo hiểm xã hội đều mang tên Lê Thị Bích L. Do Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam và chị Lê Thị Bích L (thực tế do chị Trần Ngọc A ký) là vô hiệu, vì vậy phải giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu nên cần thoái thu toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 của số sổ bảo hiểm 2510006912 là đúng và số tiền thoái thu này theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 698.880đ (sáu trăm chín mươi tám nghìn tám trăm tám mươi đồng) được trả lại cho người lao động thực tế là chị Trần Ngọc A là phù hợp.
. Về lệ phí: Chị Lê Thị Bích L phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, 371, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50; Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị Bích L. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may P với chị Lê Thị Bích L tháng 5/2010 (do chị Trần Ngọc A mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.
2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 5/2010 đến tháng 7/2010 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2510006912 cấp tại Công ty cổ phần may P. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 698.880đ (sáu trăm chín mươi tám nghìn tám trăm tám mươi đồng) trả lại cho chị Trần Ngọc A.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Bích L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Lê Thị Bích L (do bà Nguyễn Thị Ngọc Hà nộp thay) đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0003610 ngày 12/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND TP. V, T P; - Chi cục THADS TP. V, T. P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đào Thị H |