vanban.org

Quyết định 118/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/06/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị N.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị N với Công ty TNHH S (theo bảo hiểm xã hội số 7412030860) bị vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412030860 không phải là bà Hồ Thị N, sinh ngày 22/12/1994, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Hồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Bà Hồ Thị Nhung yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 118/2025/QĐST-LĐDĩ An, ngày 09 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 119/2025/TLST-VLĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 47/2025/QĐST-LĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Hồ Thị N, sinh năm: 1994; thường trú: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty TNHH S; địa chỉ: Số G, Đại lộ T, Khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lee Sung M; chức danh: Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2/ Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T, sinh năm 1988; chức vụ: chuyên viên Bảo hiểm xã hội thành phố D; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 28/5/2025). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Hồ Thị N trình bày:

Bà Hồ Thị N, sinh ngày 22/12/1994, đến năm 2012 được Công an tỉnh B cấp chứng minh nhân số 215363125. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng chưa đủ tuổi để giao kết hợp đồng lao động, vì vậy bà N sửa chứng minh nhân dân từ năm 1994 thành năm 1991và ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Y. Bà N làm việc tại Công ty TNHH Y 2000 từ tháng 06/2012 đến tháng 03/2013, có tham gia đóng BHXH số 7912232498. Trong khoảng thời gian trên bà bị mất chứng minh nhân dân nên được cấp lại. Sau đó, bà nghỉ việc tại Công ty TNHH Y 2000 và ký hợp đồng với Công ty Cổ phần S1 tham gia đóng bảo hiểm số 5220640056. Từ khoảng tháng 4/2025 bà đi làm thủ tục tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thì được biết bị trùng bảo hiểm trong khoảng thời gian tháng 10/2012 đến tháng 02/2013 với mã số BHXH số 7412030860, nên BHXH hướng dẫn bà nộp đơn khởi kiện tại Tòa án. Thời điểm 2012, bà cam đoan không cho bất kỳ ai mượn thông tin cá nhân để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S. Vì vậy, bà Hồ Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị N và Công ty TNHH S vô hiệu.

- Ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH S cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Hồ Thị N, sinh năm 1994, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7412030860 từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013 chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra tra cứu dữ liệu, BHXH thành phố D còn phát hiện bà Hồ Thị N còn có mã số 7912232498 có quá trình tham gia BHXH, BHYT từ tháng 06/2012 đến tháng 03/2013 tại công ty TNHH Y 2000. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Hồ Thị N và Công ty TNHH S, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Hồ Thị N, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Hồ Thị N, Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.

- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH S trình bày: Công ty TNHH S có ký kết hợp đồng lao động với bà Hồ Thị N, sinh năm 1991, CMND số xxxxxxxxx. Công ty đã tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo đúng quy định trong thời gian từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013. Tại thời điểm ký hợp đồng bà N có cung cấp hồ sơ để xin việc theo quy định của Công ty, tuy nhiên do thời gian đã lâu nên Công ty không còn lưu trữ hồ sơ, không rõ ngày hợp đồng lao động ký kết với bà N. Việc bà N trình bày cho người khác mượn hồ sơ để ký hợp đồng với Công ty TNHH S và làm việc ở Công ty thì Công ty S không rõ, nếu có là do hành vi cố ý của bà N nên Công ty không biết và không có liên quan gì. Nay bà Hồ Thị N yêu cầu tuyên bố hợp đồng với Công ty TNHH S vô hiệu để giải quyết việc bà N bị trùng bảo hiểm tại Công ty khác thì Công ty TNHH S cũng thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết cho bà N theo quy định. Công ty TNHH S không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết việc lao động đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu của bà Hồ Thị N là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Hồ Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội Dĩ An và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH S có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự

Về nội dung:

Trong thời gian từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013, người lao động tên Hồ Thị N, sinh năm 1991 (thực tế sinh năm 1994), số chứng minh nhân số 215363125 được Công ty TNHH S tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7412030860. Tuy nhiên, bà N khẳng định người tham gia quan hệ lao động với Công ty TNHH S và thực tế làm việc tại công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013 không phải là bà Hồ Thị N. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm là do có người giả mạo chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà N để xin vào Công ty TNHH S làm việc.

Xét thấy, lời khai của bà N phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội D. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 06/2012 đến tháng 03/2013, bà N đang làm việc tại Công ty TNHH Y 2000 và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội số 7912232498. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S trong khoảng thời gian từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013 không phải là bà Hồ Thị N nên toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động là vi phạm pháp luật và bị vô hiệu theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị N về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị N với Công ty TNHH S theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412030860 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà N và ý kiến của bà về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH S trong giai đoạn từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013, không phải là bà Hồ Thị N; bà N có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412030860.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Hồ Thị N phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.

- Căn cứ các Điều 9, Điều 30 của Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm năm 2002, năm 2006, năm 2007);

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị N.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị N với Công ty TNHH S (theo bảo hiểm xã hội số 7412030860) bị vô hiệu.

Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412030860 không phải là bà Hồ Thị N, sinh ngày 22/12/1994, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Hồ Thị N được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412030860.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Về lệ phí: Bà Hồ Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0008319 ngày 13/5/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ