vanban.org

Quyết định 117/2026/QĐST-LĐ — Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Đinh Thị L.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đinh Thị L và Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2009 đến tháng 06 năm 2010 là vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409144087 không phải là bà Đinh Thị L, sinh năm 1985; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Đinh Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Đinh Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 117/2026/QĐST-LĐ
TP.Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết.

Thư ký phiên họp: Bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 159/2026/TLST-LĐ ngày 14 tháng 4 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 103/2026/VLĐ-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Ấp L, xã T, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: C, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Công ty TNHH M; địa chỉ: A, Tổ A, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt

2.2. Bảo hiểm xã hội cơ sở L1; địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai bà Đinh Thị L trình bày: Do có nhu cầu rút bảo hiểm nên bà Đinh Thị L đến liên hệ với Bảo hiểm xã hội để rút bảo hiểm theo đúng quy định. Sau đó, bà Đinh Thị L được Bảo hiểm xã hội thông báo thời điểm từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2010 bà Đinh Thị L có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH M nên Công ty TNHH M có thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho bà Đinh Thị L vào thời gian trên.

Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời điểm nêu trên bà Đinh Thị L cũng đang làm việc cho Công ty khác nên cùng một khoảng thời gian, bà Đinh Thị L được đóng bảo hiểm tại nhiều công ty. Do đó, đến nay bà Đinh Thị L không thể rút bảo hiểm xã hội theo đúng quy định được.

Nhận thấy, việc ký kết hợp đồng lao động giữa bà Đinh Thị L và Công ty TNHH M là sai quy định, đã vi phạm nguyên tắc trung thực, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ, bà Đinh Thị L đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết như sau: Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đinh Thị L và Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ tháng 03 năm 2009 đến tháng 06 năm 2010 là vô hiệu toàn bộ.

Về hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng lao động thì bà Đinh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại công văn số 742/CV-BHXH về việc xác nhận quá trình tham gia BHXH ngày 23/3/2026, Bảo hiểm xã hội cơ sở L1 xác định:

Sau khi kiểm tra dữ liệu, BHXH Cơ sở Lái Thiêu xác định: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1985, số chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx đóng BHXH, BHYT, BHTN, Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với mã số BHXH 7409144087 có quá trình tham gia từ tháng 3/2009 đến tháng 6/2010 tại Công ty TNHH M. Bảo hiểm cơ sở B đã thực hiện chốt sổ đối với mã số 7409144087 ngày 13/7/2010 quá trình tham gia từ tháng 03/2009 đến 06/2010, với tổng thời gian tham gia BHXH là 01 năm 04 tháng, BHTN là 0 năm 11 tháng. Số sổ 7409144087 đã hưởng BHXH 01 lần, chưa hưởng chế độ thất nghiệp.

Bảo hiểm xã hội cơ sở L1 có văn bản yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Công ty TNHH M vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Riêng Công ty TNHH M không tham gia tố tụng và không có ý kiến về việc giải quyết việc dân sự.

Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Đinh Thị L; Bảo hiểm xã hội cơ sở L1, Công ty TNHH M vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2010, người lao động tên Đinh Thị L giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M và được Công ty TNHH M tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409144087. Tuy nhiên, bà L thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH M và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2010 là một người khác, không phải là bà (bà L không xác định được người làm việc thực tế tại Công ty TNHH M là ai và vì sao người này lại có hồ sơ của bà để đi nộp cho Công ty TNHH M).

Xét thấy, lời khai của bà L phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2010, bà L đang làm việc tại Công ty TNHH L2 và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7409012427. Như vậy, có căn cứ xác định chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2010 là một người khác, không phải là bà Đinh Thị L nên bà L yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH M với bà L từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2010 bị vô hiệu là có cơ sở chấp nhận

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Đinh Thị L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đinh Thị L với Công ty TNHH M theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409144087 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà L về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH M trong giai đoạn từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2010 không phải là bà Đinh Thị L. Bà L có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409144087.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Đinh Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ

- Khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 9 của Bộ luật lao động năm 1994; Điều 127, 132 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Đinh Thị L.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Đinh Thị L và Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2009 đến tháng 06 năm 2010 là vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409144087 không phải là bà Đinh Thị L, sinh năm 1985; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân xxxxxxxxxxxx. Bà Đinh Thị L được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409144087.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Đinh Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0022488 ngày 09/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ