vanban.org

Quyết định 09/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/03/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị Thu T.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Nguyễn Thị Thu T với Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 (thời gian làm việc từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014) vô hiệu. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu T chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà T đã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Thu Thà tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị Thu T.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2024/QĐST-LĐDĩ An, ngày 22 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 24/2024/TLST-LĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2024/QĐST-LĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh G, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1991; thường trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh B, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn L1; địa chỉ: Đường A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh B.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trương Thị Thúy L, sinh năm 1951; địa chỉ: 4 đường số F, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh B, là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc của Công ty trách nhiệm hữu hạn L1), vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh B; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh B.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T2, 1988; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh B, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024), vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu ngày 01/03/2024 và quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Bà là em gái ruột của bà Nguyễn Thị Thu T1. Năm 2011 Công ty trách nhiệm hữu hạn L1. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thu T1 bị mất giấy tờ liên quan đến thông tin cá nhân nên không đủ điều kiện để ứng tuyển lao động nên bà Nguyễn Thị Thu T cho bà T1 mượn thông tin cá nhân của bà để làm hồ sơ và ký kết hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn L1. Đến năm 2014 thì bà T1 nghỉ việc và về quê cho đến nay. Khi làm việc thì bà T1 có tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014.

Cũng trong thời gian đó, bà T giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần S và có đóng bảo hiểm xã hội số: 7412138946. Đến tháng 12/2018 thì bà T nghỉ việc.

Nay bà T xác định thực tế trong thời gian từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014 bà không phải là người trực tiếp ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn L1, việc chị gái của bà là Nguyễn Thị Thu T1 mượn tên bà để ký hợp đồng lao động với Công ty là không đúng quy định dẫn tới việc bà đi làm thủ tục về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bị vướng do trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Thu T (do chị gái Nguyễn Thị Thu T1 mượn tên) với Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 (thời gian làm việc từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014) vô hiệu. Bà T chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Việc bà Nguyễn Thị Thu T1 mượn hồ sơ lao động của bà T để làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 là lỗi của bà T và bà Nguyễn Thị Thu T1, không liên quan đến Công ty. Do đó, bà T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định. Ngoài ra, bà T xác định không có ý kiến, hay yêu cầu gì khác trong việc này.

* Tại Bản tự khai đề ngày 14/3/2024, người đại diện hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 là bà Trương Thị Thúy L trình bày:

Tại thời điểm tuyển dụng, Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 không phát hiện được việc bà Nguyễn Thị Thu T1 mượn hồ sơ của bà Nguyễn Thị Thu T để tham gia ký kết hợp đồng lao động với công ty. Hồ sơ lao động của bà Nguyễn Thị Thu T (do bà T1 mượn thông tin) hiện công ty không còn lưu giữ nên công ty K xác định được thời gian bà T ký kết hợp đồng lao động với công ty và thời gian làm việc bao lâu. Lỗi dẫn đến việc công ty ký kết hợp đồng với bà T (nhưng bà T1 mới là người thực tế làm việc tại công ty) là do bà T và bà T1. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người yêu cầu, công ty đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu. Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Công ty không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai đề ngày 14/3/2024, người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố D là ông Dương Văn T2 trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH L1 cho người lao động thì Công ty TNHH L1 có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 16/12/1993, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), với mã số BHXH 7411193902 từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014 chưa nhận trợ cấp BHXH.

Ngoài ra bà Nguyễn Thị Thu T còn có mã số BHXH 7412138946 từ tháng 04/2012 đến tháng 05/2014 tại Công ty Cổ phần S; tháng 11/2014 đến tháng 01/2018 tại Công ty Cổ phần S và từ tháng 12/2018 đến tháng 09/2023 tại Công Ty TNHH F. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị Thu T, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Nguyễn Thị Thu T, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến và đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T1 trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thu T1 là chị gái ruột của Nguyễn Thị Thu T. Trước đây, bà có vào Bình Dương để làm việc. Khi vào làm tại công ty TNHH L1, công ty có yêu cầu bà cung cấp thông tin cá nhân của mình để ký kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, thời điểm này bà bị mất giấy tờ cá nhân nên bà có mượn thông tin cá nhân của em gái bà là Nguyễn Thị Thu T để tiến hành ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L1. Đến năm 2018, bà nghỉ làm tại Công ty TNHH L1 và về quê cho đến nay.

Hợp đồng lao động giữa bà với Công ty TNHH L1 do đã lâu nên bà đã làm thất lạc và không còn lưu giữ nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Theo thông tin được biết thì thời gian đóng trùng bảo hiểm xã hội của bà Thà l từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014 thì bà thống nhất. Thực tế, tôi cũng không nhớ chính xác khoản thời gian bà và Công ty TNHH L1 ký hợp đồng lao động, tuy nhiên việc công ty có đóng bảo hiểm xã hội trong những ngày bà làm việc với thông tin để tham gia bảo hiểm xã hội là của em gái bà là Nguyễn Thị Thu T. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì bà đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì trong việc này.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Yêu cầu của bà Nguyễn Thị T3 Thà là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguời yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Nguyễn Thị Thu T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp đồng thời có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Việc bà Nguyễn Thị Thu T1 lấy tên bà Nguyễn Thị Thu T để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006 và 2007. Qua rà soát, Bảo hiểm xã hội thành phố D cung cấp thông tin Công ty TNHH L1 có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị Thu T với mã số BHXH 7411193902 từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014. Do đó, việc bà Nguyễn Thị Thu T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động (từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2014) giữa bà Nguyễn Thị Thu T (do bà Nguyễn Thị Thu T1 mượn tên) với Công ty TNHH L1 vô hiệu là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu lệ phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 370, 371, 372 và Điều 401, 402 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 127, 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006 và 2007;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị Thu T.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Nguyễn Thị Thu T với Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 (thời gian làm việc từ tháng 07/2011 đến tháng 07/2014) vô hiệu.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu T chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004487 ngày 05/03/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ