vanban.org

Quyết định 08/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 06/05/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa người sử dụng lao động là Công ty TNHH YakinViệt Nam với người lao động chị Nguyễn Thị T (do chị Nguyễn Thị N mượn hồ sơ để ký ) là vô hiệu toàn bộ. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm từ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Chị Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T
  • Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2024/QĐST-LĐViệt Trì, ngày 23 tháng 02 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Hoa.

Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hoa - Thẩm tra viên tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Duy Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2024/TLST-VDS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2024/QĐST-VDS ngày 18 tháng 01 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên họp; Thông báo mở lại phiên họp, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (Có đơn xin xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu x4, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH Y Việt Nam.

Địa chỉ: Lô x6, KCN T, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh Đ - Trưởng phòng nhân sự (Xin vắng mặt)

2. Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ.

Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường Tân Dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh T – Chuyên viên phòng Quản lý thu

- sổ thẻ (Xin vắng mặt)

3. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991. (Có đơn xin xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu x3, xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại Đơn yêu cầu và bản tự khai người yêu cầu là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị Nguyễn Thị N là em gái ruột của chị, do thiếu hiểu biết pháp lutaaj nên đã lấy một bộ hồ sơ sơ yếu lý lịch mang tên chị để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam (Khu Công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Tháng 07/2008 chị N được công ty TNHH Y Việt Nam ký hợp đồng lao động (ký bằng tên của chị Nguyễn Thị T ) và đóng bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật và được cấp sổ bảo hiểm xã hội số 2508009xxx, mang tên chị Nguyễn Thị T. Chị N làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam đến hết tháng 4/2010 thì thôi việc.

Từ tháng 07/2008 đến tháng 4/2010 bản thân chị T đang làm việc tại Công ty TNHH Xxx Việt Nam và được Công ty đóng bảo hiểm xã hộ theo quy định, chị được cấp sổ bảo hiểm xã hội số 2508015xxx.

Hiện nay chị T có hai số sổ bảo hiểm xã hội tại hai công ty khác nhau cùng thời điểm nên bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Chị đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa chị Nguyễn Thị N (lấy tên chị Nguyễn Thị T) và Công ty TNHH Y Việt Nam là vô hiệu, thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm từ tháng 7/2008 đến tháng 4/2010 của số sổ bảo hiểm 2509009xxx. Chị T nhất trí với số tiền thoái thu theo sự tính toán của bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ, và nhất trí trả lại số tiền thoái thu này cho chị Nguyễn Thị N.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Y Việt Nam trình bày:

Tháng 7/2008 Công ty TNHH Y Việt Nam có ký hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, địa chỉ khi chị T ký hợp đồng lao động với Công ty là xã Vĩnh Phú, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã tiến hành đóng BHXH cho chị T theo quy định của pháp luật. Chị T làm việc tại Công ty đến hết tháng 42/010 thì tự ý thôi việc.

Hiện nay chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty và chị T là vô hiệu vì theo chị T trình bày là có sự lừa dối: Cụ thể là chị Nguyễn Thị N là em gái ruột chị T đã lấy hồ sơ xin việc mang tên chị Nguyễn Thị T để tuyển dụng vào Công ty làm việc.

Thời điểm chị N đang làm việc tại Công ty thì chị T đang làm tại công ty TNHH Xxx Việt Nam. Nay chị T bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội nên đề nghị Tòa án tuyên Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty và chị Nguyễn Thị T (Do chị Nguyễn Thị N ký) là vô hiệu và thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm xã hội.

Quan điểm của Công ty: Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết vụ án, đảm bảo quyền lợi cho Công ty cũng như các đương sự khác. Công ty đồng ý về việc Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty và chị Nguyễn Thị T (do chị Nguyễn Thị N ký) bị tuyên vô hiệu.

Công ty TNHH Y Việt Nam nhất trí với số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội theo sự tính toán của bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ, và nhất trí trả lại cho người lao động.

Do khi người lao động nghỉ việc, công ty đã trả lại hồ sơ xin việc cho công nhân nên không còn lưu giữ.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ trình bày:

Qua rà soát bảo hiểm xã hội trên hệ thống, chúng tôi phát hiện trường hợp bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 ở xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có hai số sổ bảo hiểm xã hội, bị trùng thời gian đóng bảo hiểm, cụ thể:

Số sổ 1: 2509009xxx được cấp tại Công ty TNHH Y Việt Nam, xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Số sổ 2: 2508015xxx được cấp tại Công ty TNHH Xxx Việt Nam, xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Tháng 7/2008 bà Nguyễn Thị N (người mượn hồ sơ) đi làm tại Công ty TNHH Y Việt Nam và tham gia BHXH theo mã số 2509009xxx. Thời điểm đó bà Nguyễn Thị T đang làm việc và có tham gia BHXH tại Công ty TNHH Xxx Việt Nam theo mã số 2508015xxx.

Nay bà Nguyễn Thị T trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho bà Nguyễn Thị N mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể Bà Nguyễn Thị N là em gái ruột bà Nguyễn Thị T đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên của bà T để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam. Trong thời gian bà N là việc dưới tên bà T tại Công ty TNHH Y Việt Nam, thì bà T đang làm việc tại Công ty TNHH Xxx Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Y Việt Nam và làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam là bà Nguyễn Thị N.

Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao động ký hợp đồng lao động, công ty sẽ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH cho người lao động theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc bà Nguyễn Thị T có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau.

Quan điểm của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ về yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T như sau: Để bảo đảm quyền lợi cho bà Nguyễn Thị T, đề nghị Tòa án tuyên quyền lợi và nghĩa vụ của các bên như sau:

1. Đồng ý với yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T.

2. Đề nghị và yêu cầu cơ quan BHXH: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH 2509009xxx, mang tên Nguyễn Thị T từ tháng 7/2008 đến tháng 04/2010 tại Công ty TNHH Y Việt Nam, với số tiền là 3.950.370 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm bảy mươi đồng)

Ngoài ra do công việc bận nên BHXH tỉnh Phú Thọ đề nghị được vắng mặt trong phiên họp giải quyết việc dân sự của Tòa án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị N trình bày:

Tháng 72008, do thiếu hiểu biết về pháp luật nên chị đã lấy một bộ hồ sơ xin việc của chị gái ruột chị là Nguyễn Thị T để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam tại khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Chị được nhận vào làm việc và được Công ty ký Hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội theo quy định. Chị được cấp số sổ bảo hiểm 2509009xxx (mang tên chị Nguyễn Thị T). Chị làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam đến hết tháng 4/2010 thì thôi việc.

Trong thời gian chị làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam thì chị Nguyễn Thị T đang làm việc tại Công ty TNHH Xxx Việt Nam và cũng được công ty TNHH Xxx Việt Nam đóng bảo hiểm, chị T có số sổ bảo hiểm 2508015xxx.

Hiện nay chị Nguyễn Thị T đang có hai số sổ bảo hiểm và bị trùng thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 7/2008 đến tháng 4/2010

Chị đồng ý với yêu cầu của chị T đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa chị (lấy tên chị T ký) và công ty TNHH Y Việt Nam là vô hiệu. Chị nhất trí với số tiền thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ. Nếu được trả lại số tiền thoái thu, chị xin nhận.

Do thời gian đã lâu chị không còn lưu giữ Hợp đồng lao động đã ký kết để nộp cho Tòa án.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 132 Bộ luật dân sự 2005; Điều 6; Điều 30 Bộ Luật lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; Điều 50; Điều 51 Bộ Luật lao động năm 2019;

Áp dụng Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T. Đề nghị Toà án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa chị Nguyễn Thị T và Công ty TNHH Y Việt Nam (Do chị Nguyễn Thị N mượn hồ sơ) là vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và thoái thu bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tháng 7/2008, người lao động và Công ty TNHH Y Việt Nam đã ký hợp đồng lao động tại trụ sở Công ty TNHH Y Việt Nam tại Lô B6 khu công nghiệp Thuỵ Vân, xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa chị Nguyễn Thị T và Công ty TNHH Y Việt Nam (Do chị Nguyễn Thị N mượn hồ sơ) là vô hiệu, xét thấy: Việc chị Nguyễn Thị N lấy hồ sơ tên chị Nguyễn Thị T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH YViệt Nam là giả mạo khi giao kết hợp đồng, nên đề nghị của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Sau đó, Công ty TNHH Y Việt Nam đã đóng bảo hiểm xã hội cho chị N (mượn tên chị T) dẫn đến có thời gian đóng trùng của 02 sổ bảo hiểm, vì vậy cần phải thoái thu số tiền đã đóng bảo hiểm xã hội của số sổ bảo hiểm 2509009xxx theo tính toán của Cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ là 3.950.370 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm bảy mươi đồng), trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị N là phù hợp.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 132 Bộ luật dân sự 2005; Điều 6; Điều 30 Bộ Luật lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; Điều 50; Điều 51 Bộ Luật lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa người sử dụng lao động là Công ty TNHH YakinViệt Nam với người lao động chị Nguyễn Thị T (do chị Nguyễn Thị N mượn hồ sơ để ký ) là vô hiệu toàn bộ.

- Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm từ tháng 7/2008 đến tháng 4/2010 của sổ bảo hiểm số 2509009xxx, cấp tại Công ty TNHH Y Việt Nam. Số tiền thoái thu căn cứ theo sự tính toán Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ là 3.950.370 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm bảy mươi đồng), trả lại cho chị Nguyễn Thị N.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0005785 ngày 04/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đươc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoăc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ