vanban.org

Quyết định 05/2025/QĐST-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 15/01/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Chị T - Cty Sumitomo - Yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu"
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2025/QĐST-VLĐTiên Du, ngày 15 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

“V/v Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đỗ Cường Dũng.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên họp: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 15/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Lao động thụ lý số: 06/2024/TLST-VLĐ, ngày 06/11/2024 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, theo quyết định mở phiên họp số: 06/2025/QĐST-VLĐ, ngày 09/01/2025 gồm những người tham gia tố tụng:

Người yêu cầu: Chị Chu Thị T, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Chu Thị Th, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Xin vắng mặt).

2. Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam

Địa chỉ: Lô 3, đường TS 6, khu công nghiệp T, xã H, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại điện theo pháp luật: Ông K, chức vụ: Tổng Giám đốc (Xin vắng mặt);

3. Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Địa chỉ: Thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

- Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Hà G - Chức vụ: Giám đốc

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Công S - Chức vụ: Phó giám đốc (Xin vắng mặt);

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, các lời khai của người yêu cầu là chị Chu Thị T trình bày:

Chị và chị Chu Thị Th, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chị em ruột.

Tháng 04 năm 2008, chị có ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Canon Việt Nam - Chi nhánh Tiên Sơn, chị làm đến hết ngày 12/4/2022 chị nghỉ việc (theo Quyết định kết thúc hợp đồng lao động ngày 12/4/2022 của Công ty TNHH Canon Việt Nam). Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho chị đến tháng 3 năm 2022 theo sổ bảo hiểm số 2708008821. Trong quá trình làm việc tại công ty chị đã nộp giấy khám sức khỏe, đơn xin việc, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu công chứng, chứng thực cho công ty.

Trong thời gian trên do không hiểu biết pháp luật nên tháng 04 năm 2010 chị có cho chị Chu Thị Th (là em gái ruột của chị) mượn chứng minh nhân dân của chị để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam (viết tắt là Công ty TNHH Sumitomo Việt Nam) do ông K là người đại diện. Tháng 04 năm 2010, Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam đã ký hợp đồng với chị Chu Thị Th và đã đóng bảo hiểm xã hội theo đúng quy định của pháp luật đến tháng 07 năm 2010 thì chị Th đã xin thôi việc. Tuy nhiên sổ bảo hiểm số 2710019343 cấp tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam của chị Th lại mang tên chị là Chu Thị T.

Đến tháng 05 năm 2023, chị có đến Bảo hiểm xã hội thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì được thông báo chị có 2 sổ bảo hiểm xã hội số 2708008821 cấp tại Công ty TNHH Canon Việt Nam và sổ bảo hiểm số 2710019343 cấp tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam cùng đóng bảo hiểm từ tháng 05 năm 2010 đến tháng 07 năm 2010. Trong thời gian đó chị không làm việc tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam mà là chị cho chị Chu Thị Th mượn Chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam.

Chị đã được Tòa án giải thích về hậu quả hợp đồng vô hiệu, chị không có ý kiến yêu cầu gì.

Nay chị đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam với chị Chu Thị Th do mượn hồ sơ tên chị Chu Thị T vô hiệu một phần đối với phần thông tin người lao động và giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu một phần để hiệu chỉnh hồ sơ Bảo hiểm xã hội, cấp lại hoặc cấp mới sổ Bảo hiểm xã hội đối với chị và chị Chu Thị Th, đồng thời để chị có thể làm thủ tục đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần.

Chị xin vắng mặt các buổi làm việc và tại tất cả các phiên họp. Ngoài ra chị không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Chu Thị Th trình bày:

Chị và chị Chu Thị T, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh là chị em ruột.

Tháng 04 năm 2010 do thiếu hiểu biết về pháp luật nên chị đã mượn chứng minh nhân dân của chị Chu Thị T để làm hồ sơ xin việc làm tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam (Công ty TNHH Sumitomo Việt Nam) do ông KOINUMA TAKAYOSHI là người đại diện, lý do chị mượn chứng minh nhân dân là khi đó chị chưa đủ 18 tuổi. Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội cho chị theo đúng quy định của pháp luật từ tháng 05 năm 2010 đến tháng 07 năm 2010 thì chị xin nghỉ việc. Tuy nhiên số bảo hiểm số 2710019343 cấp tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam của chị lại mang tên chị Chu Thị T.

Cùng thời điểm đó, chị Chu Thị T đang ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Canon Việt Nam từ tháng 04 năm 2008 đến tháng 03 năm 2022 thì chị T nghỉ việc. Đến tháng 05 năm 2023, chị T có đến Bảo hiểm xã hội thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì được thông báo chị T có 2 sổ bảo hiểm xã hội số 2708008821 cấp tại Công ty TNHH Canon Việt Nam và sổ bảo hiểm số 2710019343 cấp tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam cùng đóng bảo hiểm từ tháng 05 năm 2010 đến tháng 07 năm 2010 nhưng thực tế chị T chỉ làm việc tại Công ty TNHH Canon Việt Nam.

Chị đã được Tòa án giải thích về hậu quả hợp đồng vô hiệu, chị không có yêu cầu và ý kiến gì.

Nay chị đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam với chị do mượn hồ sơ tên chị Chu Thị T vô hiệu một phần đối với phần thông tin người lao động và giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu một phần để hiệu chỉnh hồ sơ Bảo hiểm xã hội, cấp lại hoặc cấp mới sổ Bảo hiểm xã hội đối với chị và chị Chu Thị T. Chị xin vắng mặt tại các buổi làm việc và tất cả các phiên họp, ngoài ra chị không có ý kiến yêu cầu gì khác.

2. Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN do ông K là người đại diện trình bày:

Sau khi kiểm tra, hiện nay Công ty không còn lưu trữ hồ sơ của công nhân viên làm việc tại công ty từ năm 2012 trở về trước. Vì vậy công ty không thể xác nhận có công nhân tên chị Chu Thị T, sinh năm 1989; có địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có số sổ BHXH 2710019343 làm việc tại Công ty TNHH Sumitomo Việt Nam hay không.

Đến nay chị Chu Thị T có yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH Sumitomo Việt Nam với chị Chu Thị Th là vô hiệu do mang tên chị Chu Thị T. Công ty xác định không liên quan gì đến yêu cầu trên nên từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp. Ngoài ra, phía Công ty không có ý kiến, yêu cầu gì.

3. Đại diện của Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh trình bày:

Hồ sơ giấy tờ đối với số sổ BHXH 2708008821 mang tên Chu Thị T được cấp tại Công ty TNHH Canon Việt Nam do Văn phòng Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh quản lý thu.

Hồ sơ giấy tờ đối với số sổ BHXH 2710019343 mang tên Chu Thị T tham gia BHXH tại Công ty TNHH SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCT Việt Nam do Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du quản lý thu.

Số sổ BHXH 2708008821 và số sổ BHXH 2710019343 đều mang tên Chu Thị T là đúng. Nguyên nhân là do Công ty TNHH SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCT Việt Nam báo tăng tham gia BHXH cho bà Chu Thị T theo Hợp đồng lao động số SEPV-1-02611 ngày 21/04/2010 với số sổ ΒΗΧΗ 2710019343 từ tháng 05/2010 đến tháng 07/2010. Công ty TNHH Canon Việt Nam báo tăng tham gia BHXH cho bà Chu Thị T với số sổ BHXH 2708008821 từ tháng 05/2008 đến tháng 03/2022. Như vậy, thời gian đóng trùng là từ tháng 05/2010 đến 07/2010. Do 2 số sổ được khai báo tham gia BHXH ở 2 công ty khác nhau và đóng bảo hiểm xã hội ở cơ quan khác nhau, khi đó phần mềm chỉ mang tính nội bộ, phạm vi quản lý hẹp, không phát hiện được sự trùng lập trên hệ thống nên đã xảy ra tình trạng đóng trùng. Đến khi phần mềm được thống nhất quản lý tập trung đã có sự cảnh báo hồ sơ trùng trên hệ thống nên đã phát hiện bà Chu Thị T đóng BHXH cùng một thời điểm (từ tháng 05 năm 2010 đến tháng 07 năm 2010) ở 2 công ty nêu trên. Để đảm bảo quyền lợi cho người lạo động, khi có đủ căn cứ theo quy định, bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du đề nghị Tòa án nhân dân huyện giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật

Xét thấy việc cung cấp chứng cứ đối với thời gian công tác của bà Chu Thị T do bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du quản lý đã đủ theo yêu cầu của Tòa án, đồng thời do đặc thù tính chất công việc của bảo hiểm xã hội rất nhiều, đơn vị xin vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp mà tòa triệu tập.

Tại phiên họp, người yêu cầu chị Chu Thị T vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN có người đại diện theo pháp luật ông K xin vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Chu Thị Th, Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

Đại diện VKSND huyện Tiên Du phát biểu:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 6, khoản 1 Điều 30, Điều 33 của Bộ luật Lao động năm 1994;

- Căn cứ các Điều 15; Điều 16; Điều 17; Điều 49; Điều 50; Điều 51 của Bộ luật Lao động 2019;

- Căn cứ các Điều 117; Điều 127 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 1, Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Toà án:

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Chu Thị T: Tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN với chị Chu Thị T (do chị Chu Thị Th ký) là vô hiệu.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu: Xác nhận chị Chu Thị T có duy nhất 01 Sổ bảo hiểm xã hội số số 2708008821 do chị T nộp trong quá trình lao động tại Công ty TNHH Canon Việt Nam. Chị Chu Thị T, chị Chu Thị Th và Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN có quyền đến Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để hiệu chỉnh hồ sơ bảo hiểm xã hội, cấp lại hoặc cấp mới sổ BHXH cho chị Chu Thị T, chị Chu Thị Th với thời gian chị Th mượn hồ sơ của chị T để làm việc và tham gia BHXH theo Sổ bảo hiểm xã hội số 2710019343 cấp tại Công ty TNHH Sumitomo Electric Interconnect Products Việt Nam.

Về lệ phí: Chị Chu Thị T phải chịu lệ phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Lao động được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu chị Chu Thị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu quy định tại khoản 1, Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 21/04/2010, Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN và người lao động là chị Chu Thị Th (dưới tên Chu Thị T) có ký hợp đồng lao động chức vụ là Công Nhân (do chị Chu Thị Th mượn hồ sơ của chị Chu Thị T) làm việc tại Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN, có địa chỉ tại: Lô 3, đường TS 6, KCN T, xã H, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du theo quy định tại điểm v, khoản 2, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu của chị Chu Thị T đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN với chị Chu Thị Th (dưới tên chị Chu Thị T) là vô hiệu một phần. Về hợp đồng lao động, đại diện Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN xác định: “Công ty không còn lưu trữ hồ sơ của công nhân viên làm việc tại công ty từ năm 2012 trở về trước. Vì vậy công ty không thể xác nhận có công nhân tên Chu Thị T, sinh năm 1989; có địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có số sổ BHXH 2710019343 có làm việc tại Công ty TNHH Sumitomo Việt Nam hay không” tuy nhiên căn cứ Công văn số: 765/BHXH-CV ngày 27/11/2024 của Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du cung cấp thì: “Công ty TNHH SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCT Việt Nam báo tăng tham gia BHXH cho bà Chu Thị T theo Hợp đồng lao động số SEPV-1-02611 ngày 21/04/2010 với số sổ ΒΗΧΗ 2710019343 từ tháng 05/2010 đến tháng 07/2010” và cung cấp hợp đồng lao động kèm theo. Chị T và chị Th đều xác nhận giao kết hợp đồng lao động giữa Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN với chị Chu Thị Th (dưới tên chị Chu Thị T) là từ tháng 05 năm 2010 đến tháng 07 năm 2010 nên xác định trên thực tế chị Th đã được Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN nhận vào làm việc, có hưởng lương, có đóng BHXH, BHYT,.... theo quy định, ngoài những thông tin cá nhân của người lao động ghi trong Hợp đồng lao động thì các thông tin còn lại đều phù hợp với quy định của pháp luật và đã được các bên giao kết hợp đồng (Người lao động và người sử dụng lao động) thực hiện đầy đủ.

Xét thấy: Việc chị Chu Thị Th mượn hồ sơ tên chị Chu Thị T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN là không trung thực khi giao kết hợp đồng, tuy nhiên việc không trung thực khi giao kết hợp đồng của chị Th là do thiếu hiểu biết pháp luật, chị Th thực sự có đi làm, có hưởng lương và tham gia BHXH, BHYT,... đã được thụ hưởng các chế độ. Các bên thực hiện hợp đồng từ tháng 05 năm 2010 đến tháng 07 năm 2010 nên pháp luật áp dụng là Bộ luật lao động năm 1994, theo đó người lao động phải là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi và trực tiếp ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động, người dưới tên T không ký trực tiếp với công ty mà chị Th ký với công ty là vi phạm nguyên tắc trung thực, vi phạm các quy định tại Điều 6, khoản 1 Điều 30, Điều 33 của Bộ luật Lao động năm 1994 nên Hợp đồng lao động vô hiệu. Đến nay các chứng cứ đã được làm rõ, các bên đương sự đều thừa nhận, do đó xét yêu cầu của chị Chu Thị T là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên cần chấp nhận.

Giải quyết hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Toà án đã tiến hành giải thích của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu cho các đương sự, chị T, chị Th không có yêu cầu gì; đại diện Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN xác định: Công ty không còn lưu trữ hồ sơ của công nhân viên làm việc tại công ty từ năm 2012 trở về trước. Vì vậy công ty không thể xác nhận có công nhân tên Chu Thị T, sinh năm 1989; có địa chỉ: Khu phố T, phường Đ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có số sổ BHXH 2710019343 có làm việc tại Công ty TNHH Sumitomo Việt Nam hay không và Công ty không có ý kiến, yêu cầu gì.

Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật lao động năm 2019, thì “Hai bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động”. Tuy nhiên, Hợp đồng lao động giao kết giữa chị Chu Thị Th (mượn tên chị Chu Thị T) với Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN đã chấm dứt từ tháng 07 năm 2010. Do đó, chị Chu Thị T, chị Chu Thị Th và Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN phối hợp với Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để hiệu chỉnh hồ sơ BHXH, cấp lại hoặc cấp mới số BHXH đối với thời gian chị Th mượn hồ sơ của chị T để làm việc và tham gia BHXH.

Về lệ phí: Chị Chu Thị T phải chịu lệ phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 33; Điều 35; điểm v, khoản 2, Điều 39; Điều 149; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 6, khoản 1 Điều 30, Điều 33 của Bộ luật Lao động năm 1994;

Căn cứ các Điều 15; Điều 16; Điều 17; Điều 49; Điều 50; Điều 51 của Bộ luật

Lao động 2019;

Căn cứ các Điều 117; Điều 127 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1, Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Toà án:

Tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa người sử dụng lao động: Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN với người lao động chị Chu Thị Th (dưới tên chị Chu Thị T) ngày 21/04/2010 là vô hiệu toàn bộ.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu toàn bộ: Chị Chu Thị T, chị Chu Thị Th và Công ty SUMITOMO ELECTRIC INTERCONNECT PRODUCTS VN có quyền đến Bảo hiểm xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để hiệu chỉnh hồ sơ BHXH, cấp lại hoặc cấp mới số BHXH đối với thời gian chị Th mượn hồ sơ của chị T để làm việc và tham gia BHXH.

2. Về lệ phí: Chị Chu Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc lao động sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí BLTU/23 số 0001630 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc lao động trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc lao động trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ