vanban.org

Quyết định 05/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Tạ Văn T. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH S với anh Tạ Văn T tháng 6/2011 (do anh Tạ Văn T mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Yêu cầu Bảo hiểm xã hội tỉnh P thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2511003980 cấp tại Công ty TNHH S. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 645.40… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Anh Tú tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Tạ Văn T. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH S với anh Tạ Văn T tháng 6/2011 (do anh Tạ Văn T mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2025/QĐST-LĐP, ngày 11 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“Về việc: Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu”

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị H.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P tham gia phiên họp: Ông Lê Đức A - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - P mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2025/TLST-LĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 về việc “Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2025/QĐST-LĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Anh Tạ Văn T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Đội 1, (xã N cũ), phường N, tỉnh P.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bảo hiểm xã hội tỉnh P.

Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường Việt Trì, tỉnh P.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Quốc Thịnh; Chức vụ: Trưởng phòng quản lý thu và PTNTG và ông Vũ Đức Trường; Chức vụ: Chuyên viên phòng quản lý thu và PTNTG.

2. Công ty TNHH S.

Địa chỉ: Lô số 10, khu công nghiệp N, phường N, tỉnh P.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Cao Cường, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Khu Thọ Mai, phường T, tỉnh P.

3. Anh Tạ Văn T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Đội 1, (xã N cũ), phường N, tỉnh P.

(Các đương sự đều xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai anh Nguyễn Văn T trình bày: Tháng 06/2011 do không hiểu biết pháp luật, anh có cho em trai là Tạ Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Đội 01, xã N, thành phố Việt Trì, tỉnh P (nay là phường N, tỉnh P) mượn một bộ hồ sơ xin việc mang tên anh để xin vào làm việc tại Công ty TNHH S có địa chỉ tại khu công nghiệp N, tỉnh P. Sau khi vào làm việc thì anh T và Công ty TNHH S đã ký kết hợp đồng lao động mang tên anh là Tạ Văn T. Anh T vào làm việc tại Công ty TNHH S và được đóng bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm là 2511003980 cho đến tháng 7/2011 thì thôi việc. Cũng trong khoảng thời gian này anh làm việc và đóng bảo hiểm xã hội theo mã số bảo hiểm 2510001238 tại Công ty TNHH FLECON Việt Nam. Đến nay anh được cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P thông báo anh đã bị trùng đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 do có một hợp đồng lao động mang tên anh là Tạ Văn T đã đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S. Nay anh xác định việc cho em trai là Tạ Văn T mượn hồ sơ xin việc là không đúng và trái quy định của pháp luật, vì vậy anh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - P tuyên hủy hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH S với anh Tạ Văn T nhưng lấy tên anh là Tạ Văn T tháng 6/2011 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 số sổ bảo hiểm 2511003980 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú và anh đồng ý trả lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là anh Tạ Văn T. Do công việc bận nên anh không thể thường xuyên xin nghỉ được, vì vậy anh đề nghị Tòa án cho anh xin được vắng mặt trong các phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tạ Văn T trình bày: Tháng 6/2011 do không hiểu biết pháp luật, nên anh đã mượn của anh trai là Tạ Văn T một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty TNHH S có địa chỉ: Khu công nghiệp N, thành phố Việt Trì, tỉnh P. Sau khi vào làm việc, Công ty TNHH S đã ký hợp đồng lao động với anh nhưng lấy tên anh Tạ Văn T và Công ty đã đóng bảo hiểm cho anh từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 thì anh xin nghỉ việc và không làm ở Công ty TNHH S nữa, số sổ bảo hiểm là 2511003980. Trong thời gian anh làm việc ở Công ty TNHH S thì anh trai anh là Tạ Văn T đang làm việc tại Công ty TNHH FLECON Việt Nam và được Công ty TNHH FLECON Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội nên có thời gian đóng trùng bảo hiểm với nhau. Nay anh Tạ Văn T yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1 - P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa anh nhưng lấy tên anh Tạ Văn T và Công ty TNHH S tháng 6/2011 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 tại số sổ bảo hiểm 2511003980 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P anh hoàn toàn đồng ý và anh mong muốn được nhận lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là anh. Hiện nay do thời gian đã lâu nên anh không còn lưu giữ Hợp đồng lao động ký giữa anh dưới tên anh Tạ Văn T với Công ty S nên không thể nộp cho Tòa án được. Do công việc của anh rất bận không thể có thời gian tham gia các phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc được nên anh xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú do ông Vũ Đức Trường là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Qua rà soát bảo hiểm xã hội (BHXH) trên hệ thống, phát hiện trường hợp ông Tạ Văn T, sinh năm 1991 ở phường N, tỉnh P có 02 số sổ BHXH bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, cụ thể:

Số sổ 1: 2511003980 được cấp tại Công ty TNHH S, phường N, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 06/2011 đến tháng 07/2011.

Số sổ 2: 2510001238 được cấp tại Công Ty TNHH FLECON - Việt Nam, phường N, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 01/2010 đến 01/2016.

Tháng 06/2011, ông Tạ Văn T (người mượn hồ sơ) đi làm tại Công ty TNHH S và tham gia BHXH theo mã số BHXH 2511003980. Thời điểm đó ông Tạ Văn T đang làm việc và có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công Ty TNHH FLECON - Việt Nam theo mã số BHXH 2510001238.

Nay ông Tạ Văn T trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho ông Tạ Văn T mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể: Ông Tạ Văn T đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên Tạ Văn T để xin việc tại Công ty TNHH S. Trong thời gian ông Tạ Văn T làm việc dưới tên Tạ Văn T tại Công ty TNHH S thì ông Tạ Văn T đang làm việc tại Công Ty TNHH FLECON - Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và làm việc tại Công ty TNHH S là ông Tạ Văn T.

Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao động ký hợp đồng lao động, công ty sẽ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc ông Tạ Văn T có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau.

Quan điểm của Bảo hiểm xã hội tỉnh P về yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Văn T như sau: Đề nghị và yêu cầu cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH 2511003980, mang tên Tạ Văn T từ tháng 06/2011 đến tháng 07/2011 tại Công ty TNHH S, với tổng số tiền là: 645.400đ (sáu trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng). Ngoài ra do công việc bận nên Bảo hiểm xã hội tỉnh P đề nghị được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S do ông Ngô Cao Cường là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Tháng 6/2011, Công ty TNHH S có ký hợp đồng lao động với anh Tạ Văn T. Sau khi ký Hợp đồng lao động Công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho anh Tạ Văn T từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 thì anh T xin nghỉ việc, số sổ bảo hiểm xã hội là 2511003980 tại Cơ quan bảo hiểm tỉnh P. Đến nay, anh Tạ Văn T có đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động ký tháng 6/2011 giữa Công ty TNHH S với anh Tạ Văn T là vô hiệu do có sự lừa dối với lý do anh không hiểu biết pháp luật nên đã cho anh Tạ Văn T mượn một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty TNHH S. Khi ký Hợp đồng lao động với Công ty TNHH S, anh Tạ Văn T đã lấy tên của anh Tạ Văn T và Công ty đã đóng bảo hiểm cho anh Tạ Văn T (nhưng người lao động thực tế là anh Tạ Văn T) tại số sổ bảo hiểm 2511003980 từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011. Nay anh Tạ Văn T yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1 - P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa anh Tạ Văn T (do anh Tạ Văn T mượn hồ sơ) và Công ty TNHH S tháng 6/2011 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 số sổ bảo hiểm là 2511003980.

Quan điểm của Công ty TNHH S: Công ty đồng ý Hợp đồng lao động ký tháng 6/2011 giữa Công ty TNHH S và anh Tạ Văn T (thực tế do anh Tạ Văn T ký) là vô hiệu. Công ty cũng nhất trí với số tiền thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P và số tiền thoái thu này được trả lại cho người lao động thực tế là anh Tạ Văn T. Do khi người lao động nghỉ việc nên Công ty TNHH S đã trả lại hồ sơ xin việc cho công nhân nên không còn lưu giữ bản Hợp đồng lao động nào. Ngoài ra do công việc bận nên Công ty TNHH S xin được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc nêu trên của Tòa án.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng phiên họp chấp nhận đơn yêu cầu của anh Tạ Văn T. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH S với anh Tạ Văn T tháng 06/2011 (do anh Tạ Văn T mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ và giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ là thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2511003980 cấp tại Công ty TNHH S. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 645.400đ (sáu trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng) được trả lại cho anh Tạ Văn T. Anh Tạ Văn T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 1 - P nhận định:

. Về tố tụng: Hợp đồng lao động anh Tạ Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết tại trụ sở Công ty TNHH S có địa chỉ tại khu công nghiệp N, thành phố Việt Trì, tỉnh P (nay là phường N, tỉnh P). Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- P là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt tất cả các đương sự.

. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH S và anh Tạ Văn T (do anh Tạ Văn T mượn hồ sơ) vào tháng 6/2011 là vô hiệu thấy rằng: Anh Tạ Văn T sử dụng hồ sơ của anh Tạ Văn T để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S là có sự lừa dối do người lao động ký kết hợp đồng không đúng chủ thể, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh Tạ Văn T dẫn đến vi phạm quy định của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của anh Tạ Văn T là có căn cứ được chấp nhận.

Thời gian Công ty TNHH S đóng bảo hiểm xã hội cho anh Tạ Văn T (mượn tên anh Tạ Văn T) tại số sổ bảo hiểm 2511003980 từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 thì cũng trong khoảng thời gian này anh Tạ Văn T đang làm việc tại Công ty TNHH FLECON Việt Nam và được Công ty TNHH FLECON Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số sổ 2510001238 nên đã dẫn đến có thời gian đóng trùng hai sổ bảo hiểm xã hội đều mang tên Tạ Văn T. Do Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH S và anh Tạ Văn T (thực tế do anh Tạ Văn T ký) là vô hiệu, vì vậy phải giải quyết hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu nên cần thoái thu toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 của số sổ bảo hiểm 2511003980 là đúng và số tiền thoái thu này theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 645.400đ (sáu trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng) được trả lại cho người lao động thực tế là anh Tạ Văn T là phù hợp.

. Về lệ phí: Anh Tạ Văn T phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, 371, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50; Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Tạ Văn T. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH S với anh Tạ Văn T tháng 6/2011 (do anh Tạ Văn T mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Yêu cầu Bảo hiểm xã hội tỉnh P thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2011 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2511003980 cấp tại Công ty TNHH S. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P là 645.400đ (sáu trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng) trả lại cho anh Tạ Văn T.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Tạ Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Tạ Văn T (do ông Đỗ Ngọc Tùng nộp thay) đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0000718 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh P.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ