- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị C"
- Tòa quyết gì? Các cứ vào Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 18 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị Thu Vân.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thuý An - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 25/2024/TLST-VLĐ, ngày 08/3/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 05/2024/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1986. Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: A, đường L, khu phố B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà C: Bà Hứa Thị T, sinh năm 1969 hoặc bà Trịnh Thị Thúy N, sinh năm 2001; cùng địa chỉ: Số A, đường E, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Theo hợp đồng uỷ quyền ngày 02/01/2024. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH L2. Địa chỉ: D - 51 đường số F, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện thep pháp luật của công ty: Bà Trương Thị Thúy L – chức vụ: Giám đốc. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Bà Đậu Thị L1, sinh năm 1965. Địa chỉ thường trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố D. Địa chỉ: Đường T, Khu T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo uỷ quyền của BHXH thành phố D: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ: A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Theo Văn bản ủy quyền ngày 05/3/2024, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị C và người đại diện theo uỷ quyền của là C là bà Hứa Thị T, bà Trịnh Thị Thúy N thống nhất trình bày: Từ tháng 4/2006 cho đến nay, bà C làm việc tại Chi nhánh Công ty Cổ phần C1 và Công ty Cổ phần G, có đóng bảo hiểm xã hội số: 9106038199. Nay bà C liên hệ Bảo hiểm xã hội nộp hồ sơ xin rút sổ Bảo hiểm xã hội thì Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện thông tin của bà C bị trùng.
Lý do bị trùng bảo hiểm: Do lúc trước chưa hiểu rõ thông tin về vấn đề đóng Bảo hiểm xã hội nên bà C có cho mẹ của bà C là bà Đậu Thị Liên m thông tin cá nhân của bà C để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH L2. Trước khi bà Đậu Thị L1 sử dụng thông tin của bà C để giao kết Hợp đồng lao động với công ty TNHH L2 từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009 thì trong khi đó tháng 4/2006, bà C đang giao kết hợp đồng lao động với Chi nhánh Công ty Cổ phần C1. Do đó, bà C bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009. Nay bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị C (do bà Đậu Thị L1 ký thay) và Công ty TNHH L2 từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009 là vô hiệu.
- Bà Trương Thị Thúy L là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan C2 trình bày: Việc bà Đậu Thị L1 mượn hồ sơ của bà C để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L2 thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả. Hồ sơ lao động của bà C hiện tại Công ty không còn lưu giữ nên không thể cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Do không còn lưu giữ nên Công ty TNHH L2 không biết bà C giao kết hợp đồng lao động với Công ty từ thời gian nào và thời hạn bao lâu. Lỗi dẫn đến việc Công ty ký kết hợp đồng với bà C do bà C và bà L1 cố tình sử dụng thông tin giả. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người lao đỗng đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của bà C. Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Công ty L2 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Dương Văn T1 là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH L2 cho người lao động thì Công ty TNHH L2 có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1986, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), với mã số BHXH 7408039825 từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009 chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị C, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này.
Về các yêu cầu khác của bà Nguyễn Thị C phía Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đậu Thị L1 trình bày: Do lúc trước chưa hiểu rõ thông tin về vấn để đóng Bảo hiểm xã hội nên tháng 03/2008 bà L1 có mượn thông tin cá nhân của con gái bà L1 là bà Nguyễn Thị C để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH L2, địa chỉ: D - E đường số F, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà L1 làm việc tại Công ty TNHH L2 từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009. Tuy nhiên, trước khi bà L1 giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L2 thì con gái bà L1 là bà Nguyễn Thị C cũng đang sử dụng thông tin này để giao kết hợp đồng lao động với Chi nhánh Công ty Cổ phần C1, địa chỉ: số H, Đại Lộ Đ, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Thị C làm việc tại Chi nhánh Công ty Cổ phần C1 từ đó cho đến nay.
Do đó, khi bà Nguyễn Thị C liên hệ Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương xin điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội thì nhận được thông báo là thông tin bảo hiểm bị trùng nên bà L1 đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị C.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà C, bà L1, Bảo hiểm xã Hội thành phố D, Công ty TNHH L2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất trình bày như sau: Người lao động tên Nguyễn Thị C, sinh năm 1986, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx (số CCCD xxxxxxxxxxxx), quá trình tham gia bảo hiểm có 02 mã BHXH: Đối với mã bảo hiểm xã hội số 7408039825 từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009 tại Công ty TNHH L2; Đối với mã bảo hiểm xã hội số 9106038199 từ tháng 04/2006 đến tháng 12/2011 tại Công ty Cổ phần G và từ 01/2012 đến 03/2024 tại chi nhánh Công ty Cổ phần C1. Bà C xác định thời gian từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009 bản thân bà C không ký hợp đồng lao động và không làm việc cho Công ty TNHH L2, nhưng mẹ ruột của bà C tên là Đậu Thị L1 vào năm 2008 có mượn chứng minh nhân dân của bà C để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH L2 từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009. Trong thời gian này, bà C ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Cổ phần G. Phía bà L1 trình bày do không hiểu biết về pháp luật nên vào tháng 03/2008 đến tháng 02/2009 có sử dụng giấy tờ tùy thân của bà C (con của bà L1) để xin việc tại Công ty TNHH L2 và đồng thời tham gia bảo hiểm do tại Công ty TNHH L2. Do thời gian đã lâu, bà L1 và Công ty TNHH L2 không còn thông tin về việc ký kết hợp đồng lao động hay hồ sơ lao động với người lao động tên Nguyễn Thị C.
Xét lời trình bày của các đương sự thấy rằng: Trong khoản thời gian từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009, bà C tham gia ký kết hợp đồng lao động cùng một lúc 02 công ty, đó là Công ty TNHH L2 và Công ty Cổ phần G, nhưng thật tế bà C chỉ làm việc tại Công ty Cổ phần G, còn người làm việc tại Công ty TNHH L2 là bà L1 (mẹ ruột của bà C) vì bà L1 mượn giấy chứng minh nhân dân của bà C để tham gia lao động. Bản thân bà C và bà L1 không hề biết sự việc này là vi phạm pháp luật. Lời trình bày của bà C, bà L1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện trong thời gian từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009, bà Nguyễn Thị C có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH L2 và Công ty Cổ phần G. Xét thấy việc bà L1 lấy tên bà C và giấy tờ tuỳ thân của bà C để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH L2 là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006. Do đó việc bà Nguyễn Thị C yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động từ tháng 03/2008 đến tháng 02/2009 giữa bà Nguyễn Thị C (do bà Đậu Thị L1 mượn tên) với Công ty TNHH L2 là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Về lệ phí: bà Nguyễn Thị C phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều: 15, 16, 49 của Bộ luật lao động;
Căn cứ vào các Điều: 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các cứ vào Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị C.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1986, địa chỉ: A, đường L, khu phố B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do bà Đậu Thị l ký kết) với Công ty TNHH L2 từ tháng 3/2008 đến tháng 02/2009 vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0004497 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục Thi hành án Dĩ An; - Các đương sự; - Hồ sơ; - Lưu./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNHỌP (Đã ký) Đào Thị Thu Vân |