- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Chu T. Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2019/QĐ-TA | TP. Lạng Sơn, ngày 30 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Hoàng Hải Đoàn
2. Thư ký phiên họp: Bà Lành Thị Thanh Nụ
Ngày 30 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/2019/QĐ-TA ngày 15 tháng 01 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Chu T. Giới tính: Nam. Sinh ngày 24 tháng 3 năm 1990.
Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 11/12
Nghề nghiệp: Không. Tiền án; tiền sự: Không.
Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Con ông Lý L và bà Chu X.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn: Ông Phạm Tuấn Hiệp - Cán bộ Công an thành phố L.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn: Ông Phạm Văn Hưng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Chu T là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, nên Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) phường Đ đã ban hành Quyết định số 165a/QĐ-UBND ngày 08 tháng 9 năm 2018, về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng. Đến ngày 09 tháng 12 năm 2018, đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã phường theo Giấy chứng nhận của Chủ tịch UBND phường Đ. Mặc dù bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng Chu T không tiến bộ, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà trong một thời gian ngắn, liên tiếp có các hành vi vi phạm, cụ thể như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 16/12/2018, Chu T có hành vi trộm cắp tài sản (dưới 2.000.000 đồng) và bị Công an thành phố L xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền (1.500.000 đồng), theo Quyết định số 00220/QĐ- XPVPHC, ngày 20/12/2018.
Trước đó vào khoảng 00 giờ phút ngày 16/12/2018, Chu T có hành vi trộm cắp tài sản (dưới 2.000.000 đồng) và đến ngày 24/12/2018, bị Công an thành phố L phát hiện và xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền (1.500.000 đồng), theo Quyết định số 00225/QĐ- XPVPHC.
Đến ngày 24/12/2018, Công an thành phố L lại phát hiện trước đó vào ngày 11/12/2018, Chu T có hành vi trộm cắp tài sản (dưới 2.000.000 đồng) nên Công an thành phố L đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi trên.
Với hành vi vi phạm như trên Chủ tịch UBND phường Đ, thành phố L đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sơ giáo dục bắt buộc và đến ngày 10/01/2019 tại Công văn số 57/CATP-HS Trưởng Công an thành phố L đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Chu T.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đối tượng Chu T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường nhưng không tiến bộ, mà thường xuyên có các hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân đối tượng không có tiền án, tiền sự. Công an thành phố L đề nghị Tòa án ra quyết định đưa Chu T vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Kể từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp Tòa án đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 16, 17, 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014, của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Có đủ căn cứ áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Chu T. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân và nhận thức của người bị đề nghị, đại diện Viện kiểm sát đề nghị đưa Chu T vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn từ 18 - 20 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc:
Trong một thời gian ngắn Chu T liên tục thực hiện các hành vi vi phạm hành chính (03 lần) nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 lần bị Công an xử phạt vi phạt hành chính, Chu T là đối tượng đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, căn cứ Điều 94 Luật Xử lý vi phạm hành chính, khoản 16 Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ, Chu T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Ngày 16/12/2018, Chu T thực hiện lần cuối hành vi vi phạm, vì vậy tính đến ngày Tòa án xem xét, quyết định vẫn còn thời hiệu, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Chu T có nơi cư trú ổn định tại phường Đ, thành phố L, nên Chủ tịch UBND phường Đ lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là đúng thẩm quyền. Hồ sơ đề nghị có đầy đủ các tài liệu như: Bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về hành vi vi phạm pháp luật của người bị đề nghị; Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Giấy chứng nhận đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; bản tường trình của người bị đề nghị; văn bản thông báo cho người bị đề nghị biết về việc lập hồ sơ; Thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp; văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc của Trưởng Công an cấp huyện.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Chu T là đúng đối tượng, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo tính hợp pháp theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Hành vi vi phạm của Chu T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản của người khác, vi phạm an ninh trật tự an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong một thời gian ngắn Chu T liên tiếp có hành vi vi phạm an ninh trật tự, an toàn xã hội gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại khu vực dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Chu T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Xét về nhân thân Chu T là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, vì vậy cần phải xử lý nghiêm.
Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ, ý kiến tại phiên họp, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị. Xét thấy việc đưa Chu T vào cơ sở giáo dục bắt buộc là cần thiết, với thời hạn giáo dục bắt buộc 18 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, đảm bảo có thời gian hợp lý để lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Chu T trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 93, Điều 94, Điều 101; Điều 105; Điều 106; Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ Điều 26 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2014 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc. Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ.
Căn cứ Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30 và Điều 31 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Chu T. Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Địa điểm giáo dục bắt buộc: Cơ sở giáo dục Thanh Hà - Bộ Công an.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Công an thành phố L; - VKSND thành phố L; - Phòng Tư pháp thành phố L; - UBND phường Đ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Hoàng Hải Đoàn |