vanban.org

Quyết định 03/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 08/02/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị N.

Tuyên bố hợp đồng lao động số 8040533 ký ngày 28/4/2008 giữa người sử dụng lao động là Công ty TNHH YakinViệt Nam với người lao động chị Nguyễn Thị N (do chị Nguyễn Thị Nga mượn hồ sơ để ký ) là vô hiệu toàn bộ. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu toàn bộ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị N yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2024/QĐST-LĐViệt Trì, ngày 08 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Hoa.

Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hoa - Thẩm tra viên tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 62/2023/TLST-VDS ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2024/QĐST-VDS ngày 02 tháng 01 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt)

ĐKHKTT tại: Khu T.T, xã B, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ.

Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường Tân Dân, thành phố Việt Trì,

tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh T – Chuyên viên phòng quản lý thu - sổ thẻ (Đề nghị giải quyết vắng mặt)

2. Công ty TNHH Y Việt Nam.

Địa chỉ: Lô B6 khu công nghiệp Thuỵ Vân, xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh Đ - Trưởng phòng nhân

sự (Đề nghị giải quyết vắng mặt).

3. Chị Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1991 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Khu T.T, xã B, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự - chị Nguyễn Thị N trình bày:

Tháng 4/2008, chị Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1991, là em họ chị, do hiếu hiểu biết pháp luật nên có lấy 01 bộ sơ yếu lý lịch của chị để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam tại khu Công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Chị Nga đã được công ty TNHH Y Việt Nam ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội theo số sổ 250900xxxx (Sổ bảo hiểm mang tên chị - Nguyễn Thị N). Chị Nga làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam đến tháng 4/2010 thì thôi việc.

Từ tháng 5/2008 đến tháng 6/2008 bản thân chị không đi làm ở đâu, chỉ ở nhà. Đến tháng 7/2008 chị mới đi làm tại công ty TNHH S Việt Nam, sau thời gian thử việc, tháng 8/2008 chị cũng được công ty TNHH S Việt Nam ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội theo số sổ bảo hiểm 2508015xxx.

Hiện nay, chị có 02 số sổ bảo hiểm:

- Sổ số 1: 250900xxxx cấp tại Công ty TNHH Y Việt Nam (do chị Nga đi làm tại đây).

- Sổ số 2: 2508015xxx cấp tại Công ty TNHH S Việt Nam (do chị trực tiếp đi làm tại đây).

Nay chị đề nghị Tòa án Tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH Y Việt Nam và chị Nguyễn Thị Nga (ký bằng tên của chị Nguyễn Thị N ) là vô hiệu, thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 5/2008 đến tháng 4/2010 của sổ bảo hiểm số 250900xxxx mang tên Nguyễn Thị N do chị Nga mượn tên chị đi làm và được cấp tại Công ty TNHH Y Việt Nam. Chị nhất trí số tiền thoái thu theo sự tính toán của bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ và đồng ý trả số tiền này cho chị Nguyễn Thị Nga.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Y Việt Nam trình bày:

Ngày 28/4/2008 Công ty TNHH Y Việt Nam có ký hợp đồng lao động số 8040533 với chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986 với công việc là Công nhân vận hành máy may công nghiệp, đây là hợp đồng lao động có kỳ hạn xác định từ ngày 28/4/2008 đến ngày 27/4/2010.

Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã tiến hành đóng bảo hiểm xã hội cho chị N theo quy định của pháp luật. Chị N làm việc tại Công ty đến hết tháng 4/2010 thì tự ý thôi việc.

Hiện nay chị Nguyễn Thị N đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động nêu trên bị vô hiệu, vì theo chị N trình bày là có sự lừa dối: Cụ thể là chị Nguyễn Thị Nga là em họ của chị N đã lấy hồ sơ xin việc mang tên chị Nguyễn Thị N để tuyển dụng vào Công ty làm việc.

Thời điểm đó chị N đang làm tại công ty TNHH S Việt Nam. Nay chị N bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội nên đề nghị Tòa án tuyên Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH Y Việt Nam và chị Nguyễn Thị N (Do chị Nguyễn Thị Nga ký) là vô hiệu và thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội của số sổ bảo hiểm do chị Nga mượn tên chị N đi làm tại Công ty TNHH Y Việt Nam.

Quan điểm của Công ty: Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết vụ án, đảm bảo quyền lợi cho Công ty cũng như các đương sự khác. Công ty đồng ý về việc Hợp đồng lao động số 8040533 đã ký ngày 28/4/2008 giữa Công ty TNHH Y Việt Nam và chị Nguyễn Thị N (do chị Nguyễn Thị Nga ký) bị tuyên vô hiệu. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật

Do khi người lao động nghỉ việc, công ty chúng tôi đã trả lại hồ sơ xin việc cho công nhân nên không còn lưu giữ, công ty chúng tôi chỉ còn lưu giữ bản hợp đồng lao động đã nộp cho Toà án.

Do bận công việc nên đại diện theo ủy quyền Công ty TNHH Y Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết việc lao động vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ trình bày:

Qua rà soát bảo hiểm xã hội trên hệ thống, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ phát hiện trường hợp chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986 ở khu T.T, xã B, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ có 02 số sổ bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 5/2008 đến tháng 4/2010, cụ thể:

Số sổ 1: 250900xxxx được cấp tại Công ty TNHH Y Việt Nam, xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Số sổ 2: 2508015xxx được cấp tại Công ty TNHH S Việt Nam, xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Nay chị Nguyễn Thị N trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho chị Nguyễn Thị Nga mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể chị Nguyễn Thị Nga là em họ chị Nguyễn Thị N đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên của chị Nguyễn Thị N để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam. Trong thời gian chị Nguyễn Thị Nga là việc dưới tên bà Nguyễn Thị N tại Công ty TNHH Y Việt Nam, thì chị Nguyễn Thị N đi làm tại Công ty TNHH S Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Y Việt Nam và làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam là chị Nguyễn Thị Nga.

Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao động ký hợp đồng lao động, công ty sẽ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH cho người lao động theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc bà Nguyễn Thị N có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau.

Quan điểm của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ về yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị N như sau: Để bảo đảm quyền lợi cho chị Nguyễn Thị N, đề nghị Tòa án tuyên quyền lợi và nghĩa vụ của các bên như sau:

1. Đồng ý với yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị N.

2. Đề nghị và yêu cầu cơ quan BHXH: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH 250900xxxx, mang tên Nguyễn Thị N từ tháng 5/2008 đến tháng 4/2010 tại Công ty TNHH Y Việt Nam, với số tiền là 4.493.296 đồng (Bốn triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng)

Ngoài ra do công việc bận nên BHXH tỉnh Phú Thọ đề nghị được vắng mặt trong phiên họp giải quyết việc dân sự của Tòa án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Nga trình bày:

Tháng 4/2008, do thiếu hiểu biết về pháp luật nên chị đã lấy một bộ hồ sơ xin việc của chị họ là chị Nguyễn Thị N để xin vào làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam tại khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Chị được nhận vào làm việc và được Công ty ký Hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội theo quy định. Chị được cấp số sổ bảo hiểm 250900xxxx (mang tên chị Nguyễn Thị N). Chị Nga làm việc tại Công ty TNHH Y Việt Nam đến hết tháng 4/2010 thì thôi việc.

Chị N đi làm tại Công ty TNHH S Việt Nam và cũng được công ty TNHH S Việt Nam đóng bảo hiểm, chị N có số sổ bảo hiểm 2508015xxx. Hiện nay chị Nguyễn Thị N đang có hai số sổ bảo hiểm được cấp ở hai công ty khác nhau, trong đó có sổ bảo hiểm do chị đi làm tại Công ty TNHH Y Việt Nam được cấp.

Chị đồng ý với yêu cầu của chị N đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa chị (lấy tên chị N ký) và công ty TNHH Y Việt Nam là vô hiệu. Chị nhất trí với số tiền thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2008 đến tháng 4/2010 của số sổ bảo hiểm xã hội 250900xxxx mang tên chị , theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ. Nếu được trả lại số tiền thoái thu, chị xin nhận.

Do thời gian đã lâu chị không còn lưu giữ Hợp đồng lao động đã ký kết để nộp cho Tòa án.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 132 Bộ luật dân sự 2005; Điều 6; Điều 30 Bộ Luật lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; Điều 50; Điều 51 Bộ Luật lao động năm 2019;

Áp dụng Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị N. Đề nghị Toà án tuyên bố hợp đồng lao động số 8040533 đã ký giữa chị Nguyễn Thị N và Công ty TNHH Y Việt Nam ngày 28/4/2008 (Do chị Nguyễn Thị Nga mượn hồ sơ) là vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và thoái thu bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 28/4/2008, người lao động và Công ty TNHH Y Việt Nam đã ký hợp đồng lao động tại trụ sở Công ty TNHH Y Việt Nam tại Lô B6 khu công nghiệp Thuỵ Vân, xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị N đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động số 8040533 đã ký giữa chị Nguyễn Thị N và Công ty TNHH Y Việt Nam ngày 28/4/2008 (Do chị Nguyễn Thị Nga mượn hồ sơ) là vô hiệu, xét thấy: Việc chị Nguyễn Thị Nga lấy hồ sơ tên chị Nguyễn Thị N để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH YViệt Nam là giả mạo khi giao kết hợp đồng, nên đề nghị của chị N là phù hợp với quy định của pháp luật.

Sau đó, Công ty TNHH Y Việt Nam đã đóng bảo hiểm xã hội cho chị Nga (mượn tên chị N) dẫn đến việc chị N có 02 số sổ bảo hiểm xã hội, vì vậy cần phải thoái thu số tiền đã đóng bảo hiểm xã hội tại số sổ bảo hiểm xã hội số 250900xxxx theo tính toán của Cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ là 4.493.296 đồng (Bốn triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng), trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị Nga là phù hợp.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 132 Bộ luật dân sự 2005; Điều 6; Điều 30 Bộ Luật lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; Điều 50; Điều 51 Bộ Luật lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị N.

Tuyên bố hợp đồng lao động số 8040533 ký ngày 28/4/2008 giữa người sử dụng lao động là Công ty TNHH YakinViệt Nam với người lao động chị Nguyễn Thị N (do chị Nguyễn Thị Nga mượn hồ sơ để ký ) là vô hiệu toàn bộ.

- Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5/2008 đến tháng 4/2010 của sổ bảo hiểm xã hội số 2509006491, cấp tại Công ty TNHH Y Việt Nam. Số tiền thoái thu căn cứ theo sự tính toán Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ là 4.493.296 đồng (Bốn triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng), trả lại cho chị Nguyễn Thị Nga.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0005755 ngày 14/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đươc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoăc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ