vanban.org

Quyết định 02/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị H. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may Vvới chị Nguyễn Thị H tháng 6/2010 (do chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Yêu cầu Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 của số sổ bảo hiểm 2510007770 cấp tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Số tiền thoái thu này theo sự tính toán của Bảo hiểm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Chị Hường tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị H. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may Vvới chị Nguyễn Thị H tháng 6/2010 (do chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2025/QĐST-LĐP, ngày 11 tháng 7 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“Về việc: Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu”

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị H.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P tham gia phiên họp: Bà Đỗ Hoàng Huyền M - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - P mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 18/2025/TLST-LĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 về việc “Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 182/2025/QĐST-LĐ ngày 04 tháng 7 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu Tranh Trong, xã Bình Phú, huyện Phù Ninh, tỉnh P. (Nay là xã Bình Phú, tỉnh P)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII, địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, pH T, thành phố V, tỉnh P. (Nay là pH V, tỉnh P),

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Quốc Thịnh; Chức vụ: Trưởng phòng quản lý thu - PTNTG và ông Vũ Đức Trường; Chức vụ: Chuyên viên phòng quản lý thu và PTNTG.

2. Công ty cổ phần may V, địa chỉ: Số 469, đường N, pH V, thành phố V, tỉnh P. (Nay là pH V, tỉnh P).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc P; Chức vụ: Nhân viên nhân sự.

3. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn Đa Năng, xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. (Nay là xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

(Các đương sự đều xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai chị Nguyễn Thị H trình bày: Tháng 06/2010 do không hiểu biết pháp luật, chị có cho chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn Đa Năng, xã T, huyện S, tỉnh T (nay là xã S, tỉnh T) mượn một bộ hồ sơ xin việc mang tên chị là Nguyễn Thị H để xin vào làm việc tại Công ty Cổ phần may V có địa chỉ tại số 469 Nguyễn Du, pH V, thành phố V, tỉnh P (nay là pH V, tỉnh P). Sau khi vào làm việc thì chị V và Công ty Cổ phần may Vđã ký kết hợp đồng lao động mang tên chị là Nguyễn Thị H. Chị V đã làm việc tại Công ty Cổ phần may Vvà được đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật với mã số bảo hiểm xã hội 2510007770 từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 thì thôi việc. Trong khoảng thời gian này, chị cũng làm việc và đóng bảo hiểm xã hội theo mã số bảo hiểm 2510007888 tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam. Đến nay chị được cơ quan Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII thông báo chị đã bị trùng đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010, lý do là có một hợp đồng lao động mang tên Nguyễn Thị H đã đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần may PEARL Việt Nam. Nay chị xác định việc cho chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ xin việc là không đúng và trái quy định của pháp luật, vì vậy chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1- P tuyên hủy hợp đồng lao động ký giữa Công ty Cổ phần may Vvới chị Nguyễn Thị V nhưng lấy tên chị là Nguyễn Thị H tháng 6/2010 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 tại số sổ bảo hiểm 2510007770 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII và chị đồng ý trả lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị V trình bày: Khoảng tháng 6/2010 do chị không hiểu biết pháp luật, nên đã mượn của chị Nguyễn Thị H một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty cổ phần may Vcó địa chỉ tại số 469 Nguyễn Du, pH V, thành phố V, tỉnh P (Nay là pH V, tỉnh P). Sau khi vào làm việc Công ty cổ phần may Vđã ký hợp đồng lao động với chị nhưng lấy tên chị Nguyễn Thị H và Công ty đã đóng bảo hiểm cho chị từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 thì chị xin nghỉ việc không làm ở Công ty cổ phần may Vnữa, tại số sổ bảo hiểm là 2510007770. Trong thời gian chị làm việc ở Công ty cổ phần may Vthì chị Nguyễn Thị H đang làm việc tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam và được Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số sổ bảo hiểm 2510007888 nên có thời gian đóng trùng bảo hiểm với nhau. Nay chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa tôi nhưng lấy tên chị Nguyễn Thị H và Công ty cổ phần may Vtháng 6/2010 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 số sổ bảo hiểm 2510007770 theo sự tính toán của bảo hiểm xã hội tỉnh P, nay là Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII chị hoàn toàn đồng ý và tôi mong muốn được nhận lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là tôi. Hiện nay do thời gian đã lâu nên tôi không còn lưu giữ Hợp đồng lao động ký giữa tôi dưới tên chị Nguyễn Thị H với Công ty cổ phần may Vnên không thể nộp cho Tòa án được. Do chị ở xa không tH xuyên đi lại để giải quyết vụ án được nên chị đề nghị Tòa án cho tôi xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII do ông Vũ Đức Trường là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Qua rà soát bảo hiểm xã hội (BHXH) trên hệ thống, Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII phát hiện trường hợp bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 ở xã Bình Phú, tỉnh P có 02 số sổ BHXH bị trùng thời gian tham gia BHXH, cụ thể:

Số sổ 1: 2510007770 được cấp tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam, pH V, thành phố V, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 06/2010 đến tháng 08/2010.

Số sổ 2: 2510007888 được cấp tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam, xã xã Thụy Vân, thành phố V, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 06/2010 đến tháng 01/2016.

Tháng 06/2010, bà Nguyễn Thị V (người mượn hồ sơ) đi làm tại Công ty cổ phần may Vvà tham gia BHXH theo mã số BHXH 2510007770. Thời điểm đó bà Nguyễn Thị H đang làm việc và có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam theo mã số BHXH 2510007888.

Nay bà Nguyễn Thị H trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho bà Nguyễn Thị V mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể: Bà Nguyễn Thị V đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên Nguyễn Thị H để xin việc tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Trong thời gian bà Nguyễn Thị V làm việc dưới tên Nguyễn Thị H tại Công ty cổ phần may Vthì bà Nguyễn Thị H đang làm việc tại Công ty TNHH YAKJIN Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần may Vvà làm việc tại Công ty cổ phần may Vlà bà Nguyễn Thị V.

Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao động ký hợp đồng lao động, công ty sẽ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc bà Nguyễn Thị H có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau.

- Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

- Đề nghị và yêu cầu cơ quan Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH 2510007770, mang tên Nguyễn Thị H từ tháng 06/2010 đến tháng 08/2010 tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam, với tổng số tiền là: 589.680đ (Năm trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi đồng).

Ngoài ra do công việc bận nên Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII đề nghị được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần may Vdo ông Phạm Ngọc Phú là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Tháng 06/2010, Công ty cổ phần may Vcó ký hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị H. Sau khi ký Hợp đồng lao động Công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho chị Nguyễn Thị H từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 thì chị H xin nghỉ việc, số sổ bảo hiểm xã hội là 2510007770 tại Cơ quan bảo hiểm tỉnh P. Đến nay, chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động ký tháng 6/2010 giữa Công ty cổ phần may Vvới chị Nguyễn Thị H là vô hiệu do có sự lừa dối với lý do chị không hiểu biết pháp luật nên đã cho chị Nguyễn Thị V mượn một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Khi ký Hợp đồng lao động với Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam, chị Nguyễn Thị V đã lấy tên của chị Nguyễn Thị H và Công ty đã đóng bảo hiểm cho Nguyễn Thị H (nhưng người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị V) tại số sổ bảo hiểm 2510007770 từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010.

Nay chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P (nay là Tòa án nhân dân khu vực - P) tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa chị Nguyễn Thị H (do chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ) và Công ty cổ phần may Vtháng 6/2010 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 số sổ bảo hiểm là 2510007770.

Quan điểm của Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam: Công ty đồng ý Hợp đồng lao động ký tháng 6/2010 giữa Công ty cổ phần may Vvà chị Nguyễn Thị H (thực tế do chị Nguyễn Thị V ký) là vô hiệu. Công ty cũng nhất trí với số tiền thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 theo sự tính toán của Cơ quan bảo hiểm và số tiền thoái thu này được trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị V. Do khi người lao động nghỉ việc nên Công ty cổ phần may Vđã trả lại hồ sơ xin việc cho công nhân nên không còn lưu giữ bản Hợp đồng lao động nào. Ngoài ra do công việc bận nên Công ty cổ phần may Vxin được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc nêu trên của Tòa án

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng phiên họp chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị H. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may Vvới chị Nguyễn Thị H từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 (do chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ và giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ là thoái thu thời gian đóng bảo hiểm tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 tại sổ bảo hiểm xã hội số 2510007770 cấp tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII là 589.680đ (Năm trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi đồng) được trả lại cho chị Nguyễn Thị V. Chị Nguyễn Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 1 - P nhận định:

. Về tố tụng: Hợp đồng lao động chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết tại trụ sở Công ty cổ phần may Vcó địa chỉ số 469 Nguyễn Du, pH V, thành phố V, tỉnh P (nay là pH V, tỉnh P). Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - P là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt tất cả các đương sự.

. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty cổ phần may Vvà chị Nguyễn Thị H (do chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ) vào Tháng 6/2010 là vô hiệu thấy rằng: Chị Nguyễn Thị V sử dụng hồ sơ của chị Nguyễn Thị H để ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần may Vlà có sự lừa dối do người lao động ký kết hợp đồng không đúng chủ thể, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị H dẫn đến vi phạm quy định của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của chị Nguyễn Thị H là có căn cứ được chấp nhận.

Thời gian Công ty cổ phần may Vđóng bảo hiểm xã hội cho chị Nguyễn Thị H (do chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ) tại số sổ bảo hiểm 2510007770 từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 thì cũng trong khoảng thời gian này chị Nguyễn Thị H đang làm việc tại công ty TNHH YAKJIN Việt Nam và được công ty TNHH YAKJIN Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số 2510007888 nên đã có thời gian đóng trùng hai sổ bảo hiểm xã hội đều mang tên Nguyễn Thị H. Do Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may Vvà chị Nguyễn Thị H (thực tế do chị Nguyễn Thị V ký) là vô hiệu, vì vậy phải giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu nên cần thoái thu toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 của số sổ bảo hiểm 2510007770 là đúng và số tiền thoái thu này theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII là 589.680đ (Năm trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi đồng) được trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị V là phù hợp.

. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, 371, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15, 16; điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50; Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị H. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty cổ phần may Vvới chị Nguyễn Thị H tháng 6/2010 (do chị Nguyễn Thị V mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Yêu cầu Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 của số sổ bảo hiểm 2510007770 cấp tại Công ty cổ phần may PEARL Việt Nam. Số tiền thoái thu này theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII là 589.680đ (Năm trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi đồng) trả lại cho chị Nguyễn Thị V.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị H (do bà Nguyễn Thị Hoàn nộp thay) đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0003726 ngày 23/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - P).

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ