- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Việc lao động Hà - Hoa"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nhữ Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HƢNG YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2025/QĐST - LĐ | Hưng Yên, ngày 22 tháng 12 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƢNG YÊN
THnh phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hoàng Thị Ái
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thu Lam - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên tham gia phiên họp: Ông Trần Văn Mừng- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2025/TLST-VDS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2025/QĐST-VDS ngày 10/11/2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sư: Chị Nhữ Thị H, sinh năm 1993
Địa chỉ: thôn TK, xã PNL, tỉnh Hưng Yên
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nhữ Thị H, sinh năm 1997
Địa chỉ: Thôn KL, xã PNL, tỉnh Hưng Yên
2. Công ty TNHH In Artiverse (tên cũ: Công ty TNHH may mặc dệt kim Smart Shirt)
Địa chỉ: thôn SL, xã PNL, tỉnh Hưng Yên
Đại diện theo pháp luật: Ông/ bà Zhao, Shuran, chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Chị Đặng Thị H – Giám đốc bộ phận Hnh chính – nhân sự
3. Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T, chức vụ: Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Anh T, chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Bảo hiểm xã hội cơ sở Ân Thi
Người yêu cầu và toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu và lời khai của chị Nhữ Thị H thể hiện:
Năm 2015, chị Nhữ Thị H mượn chứng minh nhân dân của chị, thời điểm đó chị không hỏi rõ. Sau này thì chị mới biết chị H mượn chứng minh nhân dân của chị để làm hồ sơ vào xin làm việc tại Công ty TNHH May mặc dệt kim Smart Shirts Việt Nam và Công ty TNHH May mặc dệt kim Smart Shirts Việt Nam đóng bảo hiểm cho chị Nhữ Thị H (nhưng theo hồ sơ mang tên chị Nhữ Thị H) từ tháng 5/2015 đến tháng 02/2016. Cơ quan bảo hiểm xã hội huyện Ân Thi đã làm thủ tục cấp mã số sổ bảo hiểm của Công ty TNHH May mặc dệt kim Smart Shirts Việt Nam 3315000334 mang tên Nhữ Thị H. Tại thời điểm này chị làm việc tại Công ty TNHH UNIDEN Việt Nam từ tháng 04/2012 đến tháng 04/2012 và tại Công ty TNHH công nghiệp BROTHER Việt Nam từ tháng 07/2012 đến tháng 04/2023 với mã số sổ bảo hiểm 3012006910 mang tên Nhữ Thị H. Như vậy, trong cùng thời gian từ tháng 05/2015 đến tháng 02/2016, trên hệ thống bảo hiểm xã hội của chị H tham gia bảo hiểm xã hội bằng hai mã số là mã số bảo hiểm 3315000334 tại Công ty TNHH May mặc dệt kim Smart Shirts Việt Nam; mã số bảo hiểm 3012006910 tại Công ty TNHH UNIDEN Việt Nam và công ty TNHH công nghiệp BROTHER.
Vì vậy, chị đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH May mặc dệt kim Smart Shirts Việt Nam với chị Nhữ Thị H (do chị Nhữ Thị H mượn hồ sơ của chị là Nhữ Thị H) là vô hiệu toàn bộ do có sự lừa dối khi ký kết hợp đồng. Chị H nhất trí hoàn trả số tiền thoái thu cho chị Nhữ Thị H theo tính T của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên.
Chị Nhữ Thị H trình bày thống nhất với nội dung chị H đã cung cấp ở trên. Chị xác định thời điểm chị lấy tên chị H ký hợp đồng và làm việc tại Công ty TNHH may mặc dệt kim Smart Shirt (nay là Công ty TNHH In Artiverse) thì chị Nhữ Thị H đang làm tại một công ty khác. Cho đến nay, chị nhận thấy chị mượn hồ sơ của chị H để đi xin việc và đứng tên chị H là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi của chị H. Chị nhất trí với yêu cầu của chị H đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố Hợp đồng lao động ký kết giữa chị nhưng lấy tên của chị H với Công ty TNHH may mặc dệt kim Smart Shirt (nay là Công ty TNHH In Artiverse) vô hiệu và thoái thu số tiền bảo hiểm xã hội trong thời gian đóng trùng theo tính T của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên, do công ty không nhận nên chị đồng ý được nhận, vì vậy đề nghị trả lại chị.
Đại diện Công ty TNHH may mặc dệt kim Smart Shirts (nay là Công ty TNHH In Artiverse) trình bày: Tháng 05/2015, Công ty TNHH may mặc dệt kim Smart Shirts (nay là Công ty TNHH In Artiverse) có ký hợp đồng lao động với chị Nhữ Thị H, sinh năm 1993(Địa chỉ: Thôn Tiên Kiều, Bãi Sậy, Ân Thi, tỉnh Hưng Yên nay là xã Phạm Ngũ Lão, Hưng Yên) theo đúng quy định của pháp luật. Việc công ty ký hợp đồng với chị H có xem xét hồ sơ và thấy hồ sơ đúng và đủ theo quy định. Sau khi ký hợp đồng, công ty đã T Hnh đóng bảo hiểm xã hội cho chị H theo quy định. Ngày 25/02/2016, chị H xin thôi việc, nên công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với chị H. Công ty có quan điểm nhất trí đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Smart Shirts (nay là công ty TNHH In Artiverse) với chị Nhữ Thị H (đều do chị H ký, mượn hồ sơ của chị Nhữ Thị H) là vô hiệu theo quy định pháp luật. Công ty nhất trí với số tiền Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm từ tháng 05/2015 đến tháng 02/2016 theo tính T của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên nhưng công ty từ chối nhận số tiền này và đề nghị hoàn trả cho người lao động là chị Nhữ Thị H.
Đại diện Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên cung cấp: Qua kiểm tra, rà soát dữ liệu, hồ sơ tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), BHXH cơ sở Ân Thi nhận thấy: chị Nhữ Thị H, sinh ngày 15/4/1993; địa chỉ: thôn TK, xã PNL, tỉnh Hưng Yên tham gia BHXH bằng 02 mã số BHXH: 3012006910 tại Công ty TNHH UNIDEN và Công ty TNHH công nghiệp Brother: 3315000334 tại Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam (nay là công ty TNHH IN ARTIVERSE). Để bảo đảm quyền lợi của người lao động và giải quyết chế độ BHXH theo đúng quy định của pháp luật, BHXH cơ sở Ân Thi đề nghị Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên: Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam với chị Nhữ Thị H (do chị Nhữ Thị H mượn hồ sơ của chị Nhữ Thị H) là vô hiệu theo quy định pháp luật. Thoái thu toàn bộ số tiền đã đóng BHXH, BHTN từ tháng 5/2015 đến tháng 02/2016 của mã số 3315000334 tại Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam (quy trình thoái thu theo quy định của BHXH Việt Nam); BHXH cơ sở Ân Thi sẽ hoàn trả số tiền thoái thu 1.605.800 đồng (Một triệu sáu trăm linh lăm nghìn tám trăm đồng) cho Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) theo quy định. Khi Tòa án đưa vụ việc ra giải quyết, đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị như sau: Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 127 Bộ luật dân sự; Điều 6, Điều 30 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; Điều 50; Điều 51 Bộ luật lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nhữ Thị H. Tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) với chị Nguyễn Thị H (do chị Nguyễn Thị H ký) là vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vưc 1 – Hưng Yên nhận định:
Về tố tụng: Hợp đồng lao động mà chị Nhữ Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết tại trụ sở Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) tại thôn SL, xã PNL, tỉnh Hưng Yên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án T Hnh phiên họp vắng mặt tất cả các đương sự.
Xét yêu cầu của chị Nhữ Thị H đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa chị Nhữ Thị H với Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) do chị Nhữ Thị H lấy Chứng minh nhân dân của chị H để ký hợp đồng là vô hiệu thì thấy: Việc chị Nhữ Thị H sử dụng Chứng minh nhân dân của chị Nhữ Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) là giả mạo khi giao kết hợp đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chị Nhữ Thị H và vi phạm quy định của Bộ luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội nên yêu cầu của chị H là có căn cứ chấp nhận. Thời gian Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) đã đóng bảo hiểm xã hội cho chị H (mượn tên chị H) tại số sổ bảo hiểm 3315000334 từ tháng 05/2015 đến tháng 02/2016 với số tiền được cơ quan Bảo hiểm xác định là 1.605.800 đồng. Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) từ chối nhận số tiền thoái thu bảo hiểm đóng trùng nêu trên và đề nghị hoàn trả cho người lao động là chị Nhữ Thị H. Các đương sự đều nhất trí với quan điểm của Công ty Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) nên thoái thu số tiền bảo hiểm đóng trùng là 1.605.800 đồng để hoàn trả cho chị Nhữ Thị H theo quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội.
Về lệ phí: Chị Nhữ Thị H phải chịu lệ phí sơ thẩm việc dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 127 Bộ luật dân sự; Điều 6, Điều 30 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15; Điều 50; Điều 51 Bộ luật lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nhữ Thị H.
Tuyên bố Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) với chị Nhữ Thị H (do chị Nhữ Thị H ký hợp đồng) vô hiệu.
2. Thoái thu số tiền bảo hiểm xã hội mà Công ty TNHH IN ARTIVERSE (trước đây là Công ty TNHH may mặc Dệt kim Smart Shirts Việt Nam) đóng cho chị Nhữ Thị H tại số sổ bảo hiểm 3315000334 từ tháng 05/2015 đến tháng 02/2016 với số tiền là 1.605.800 đồng (Một triệu sáu trăm linh lăm nghìn tám trăm đồng).
Hoàn trả cho chị Nhữ Thị H số tiền thoái thu bảo hiểm là 1.605.800 đồng (Một triệu sáu trăm linh lăm nghìn tám trăm đồng) theo quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội.
3. Lệ phí việc dân sự: Chị Nhữ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết sơ thẩm việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0002307 ngày 17/10/2025 của Thi Hnh án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị H đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm việc dân sự.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - VKSND khu vực 1 – Hưng Yên; - Thi Hnh án tỉnh Hưng Yên; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Thị Ái |