- Tranh chấp gì? Các tranh chấp trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án kinh doanh thương mại — "Công ty AV - Công ty KE (Yc Hủy PQTT)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Một thành viên AV về việc đề nghị hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 34/19 ngày 04/5/2021 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC).
- Căn cứ chính? Luật Hàn Quốc; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 31 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2021/QĐ-PQTT | Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa: ông Hoàng Minh Thành
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Bà Ngô Tuyết Băng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: bà Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Thư ký ghi biên bản phiên họp: bà Dương Thị Huệ - Thư ký Tòa án.
Căn cứ vào Điều 71 của Luật trọng tài thương mại;
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ kèm theo và Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 34/19 ngày 04/5/2021 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) tại Hà Nội.
Sau khi xem xét Đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài của Bên yêu cầu là Công ty TNHH Một thành viên AV là nguyên đơn trong Phán quyết trọng tài số 34/19 ngày 04/5/2021 với bị đơn là Công ty KE , Ltd
Các bên tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài gồm có:
Bên yêu cầu: Công ty TNHH Một thành viên AV Vina Trụ sở:Công ty KE HLT, Khu E6 khu đô thị mới CG , phường MT, quận NTL , Hà Nội Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành L, ông Vũ Minh C, ông Dương Quang L, Ông Nguyễn Thế Th (Theo Giấy ủy quyền ngày 29/11/2021 của Công ty TNHH Một thành viên AV Vina)
(Đều có mặt tại phiên họp) Bên liên quan: Công ty KE , Ltd Trụ sở: Tầng 10, Tòa nhà J, 22 Seonyudong 1-ro, Yeongdeungpo-gu, Seoul, Hàn Quốc Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy L, ông Doãn Nhật M, bà Lê Thị Th, ông Phạm Văn L. Địa chỉ liên hệ: Tầng 6, Tòa nhà HCO (Melia), số 44B LTK, quận HK , Hà Nội. (Có mặt bà Lê Thị Th và ông Doãn Nhật M. Vắng mặt ông Nguyễn Duy L, ông Phạm Văn L) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty KE , Ltd: Các luật sư: Đỗ Mạnh Tr, Phan Mậu T – Công ty Luật TNHH LV, địa chỉ: Phòng 911 tòa nhà V, số 1 Đại lộ TL, phường MT, quận NTL , Hà Nội.
(Có mặt luật sư Phan Mậu T, vắng mặt luật sư Đỗ Mạnh T)
NỘI DUNG VỤ VIỆC NHƯ SAU
Công ty TNHH Một thành viên AV (Sau đây gọi tắt là Công ty AV ) là Công ty con được thành lập theo pháp luật Việt Nam do Công ty KE s, Ltd (Sau đây gọi tắt là Công ty KE ) sở hữu 100% vốn điều lệ. Khi xảy ra tranh chấp,Công ty KE không còn sở hữu vốn tại Công ty AV . Trong khoảng thời gian từ 2013-2014 hai bên đã ký 10 hợp đồng vay. Trước đó, ngày 21/9/2007 hai bên còn ký hợp đồng xây dựng Tòa nhà KE Landmark Hà Nội. Hợp đồng xây dựng này được sửa đổi nhiều lần dẫn đến bản thỏa thuận hợp đồng sửa đổi lần số 02 ngày 30/8/2011 và Bản sửa đổi số 01 ngày 20/4/2012. Công ty AV cho rằng các khiếu kiện về hóa đơn tiền điện của mình có liên quan đến hợp đồng xây dựng. Do các bên không đạt được thỏa thuận về thanh toán khoản vay và tiền điện nên Công ty AV đã khởi kiện tới Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (Sau đây gọi tắt là VIAC) để giải quyết tranh chấp.
- Quan điểm của Công ty AV về việc khởi kiện tại VIAC:
Theo 10 hợp đồng vay được ký kết giữa hai bên thì tổng số tiền gốc của 10 khoản vay là 16.155.924.500 đồng. Số tiền này đã được chuyển cho Văn phòng dự án của Công ty KE mà không có khiếu nại nào. Khoản nợ được xác nhận bởi thư của các công ty kiểm toán năm 2016. Tuy nhiên, nghĩa vụ trả nợ bị quá hạn nhưng Công ty KE không thanh toán theo quy định tại 10 hợp đồng vay.
Đối với hợp đồng xây dựng năm 2007 mà hai bên đã ký kết, Công ty KE là nhà thầu chính của dự án xây dựng Tòa nhà KE Landmark Hà Nội và Công ty AV đã tạo điều kiện và cung cấp điện choCông ty KE . Theo đó Công ty KE phải thanh toán tiền điện cho Công ty AV . Theo Công ty AV thì hợp đồng xây dựng mà các bên đã thực hiện, bao gồm cả tiền điện được Công ty KE trả cho Công ty AV đến cuối tháng 9/2014 nhưng từ tháng 10/2014 đến tháng 3/2015 thì Công ty KE không thanh toán tiền điện cho Công ty AV mặc dù Công ty AV đã ban hành 6 hóa đơn tiền điện với tổng số tiền là 3.878.385.126 đồng. Ngoài ra, Công ty AV đã phát hành nhiều công văn gửi Công ty KE về việc đề nghị thanh toán tiền điện nhưng Công ty KE vẫn không thanh toán. Do vậy, Công ty KE đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán hóa đơn điện được quy định trong hợp đồng xây dựng và vi phạm quy định của luật được áp dụng nên phải thanh toán số tiền nợ còn thiếu và lãi chậm trả theo quy định tại điều 305.2 Bộ luật dân sự 2005.
Tại đơn khởi kiện gửi VIAC, AV yêu cầu Công ty KE phải thanh toán cho Công ty AV tổng số tiền nợ gốc là 20.034.309.626 đồng (trong đó số tiền trong hợp đồng vay là 16.155.924.500 đồng và tiền điện là 3.878.385.126 đồng) và lãi chậm trả cho các khoản tiền trên từ ngàyCông ty KE vi phạm nghĩa vụ đến ngày 95/4/2021 là 10.537.764.177 đồng (trong đó lãi theo hợp đồng vay là 6.451.694.736 đồng và lãi từ khoản tiền điện là 4.086.069.442 đồng)
- Quan điểm của Công ty KE về việc khởi kiện tại VIAC:Công ty KE cho rằng Công ty AV đã sai khi yêu cầu Công ty KE phải thanh toán các hóa đơn điện được phát hành từ 18/11/2014 đến 29/4/2015 bởi Công ty KE đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng xây dựng từ tháng 12/2012 bởi đã có chứng chỉ nghiệm thu ngày 30/12/2012. Do đó Công ty KE không có trách nhiệm đối với các hóa đơn điện phát hành bởi Công ty AV sau này. Mặt khác, Công ty AV đã không đăng ký yêu cầu thanh toán tiền điện với Tòa phá sản Seoul cho sự ghi nhận trong kế hoạch phục hồi củaCông ty KE .
Đối với khoản vay theo các hợp đồng vay từ 2013 đến 2014 được ký giữa các bên: Công ty AV hoàn toàn được biết về khoản thanh toán tạm thời nhưng đã không thực hiện bất cứ hành động nào để yêu cầu thanh toán khi khoản nợ đến hạn. Theo điều 166 Bộ luật dân sự Hàn Quốc, thời điểm bắt đầu của thời hiệu mất quyền được tính từ thời điểm có thể thực hiện một quyền nhất định nào đó. Theo 08 hợp đồng vay đều thể hiện đã hết thời hiệu khởi kiện đối với các yêu cầu thanh toán hợp đồng vay này theo quy định của pháp luật khi Công ty AV nộp đơn khởi kiện. Đối với hợp đồng vay sẽ áp dụng pháp luật của Hàn Quốc (kể cả giải quyết tranh chấp) còn yêu cầu thanh toán tiền điện sẽ áp dụng theo luật của Việt Nam. Do vậy, theo Công ty KE thì tất cả các yêu cầu thanh toán có liên quan đến hợp đồng vay phải bị từ chối nghĩa là Công ty AV đã miễn trừ và giải phóng Công ty KE khỏi nghĩa vụ thanh toán bởi quy định của Luật phục hồi kinh doanh và phá sản Hàn Quốc. Công ty AV đã hết thời hiệu đưa ra yêu cầu này. Về yêu cầu thanh toán tiền điện cũng không có căn cứ do yêu cầu này không phát sinh từ hợp đồng xây dựng và không có thỏa thuận trọng tài.
Quá trình tố tụng tại VIAC: Không bên nào phản đối hay từ chối hiệu lực pháp lý và tính hợp lệ của 10 hợp đồng vay. Có thỏa thuận trọng tài trong 10 hợp đồng vay này, theo đó VIAC là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng vay. Luật điều chỉnh hợp đồng vay là Luật Hàn Quốc. Địa điểm trọng tài là Hà Nội, Việt Nam và ngôn ngữ trọng tài là Tiếng Anh.
Đối với Hợp đồng xây dựng: Không bên nào phản đối hoặc phủ nhận tính hợp lệ và hiệu lực pháp lý của hợp đồng xây dựng. Các bên đồng ý áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng xây dựng
Tại phán quyết trọng tài số 34/19 ngày 04/5/2021 của VIAC đã quyết định: Từ chối toàn bộ các yêu cầu của Công ty AV trong vụ trọng tài này. Ngoài ra, phán quyết còn quyết định về phí trọng tài và một số nội dung khác.
Không đồng ý với phán quyết trọng tài, ngày 01/6/2021, Công ty AV nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài số 34/19 ngày 04/5/2021 của VIAC.
Quan điểm của Công ty AV về lý do yêu cầu hủy phán quyết trọng tài: Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, cụ thể:
Hội đồng trọng tài (HĐTT) vi phạm nguyên tắc: Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. HĐTT có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình (Khoản 3, điều 4 Luật Trọng tài thương mại).
Khoản 3 điều 25 Quy tắc Trọng tài quy định: HĐTT tự mình hoặc theo yêu cầu của một bên có quyền mời tổ chức, cá nhân …. và chuyên gia theo quy định tại điều 19 của Quy tắc này tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Như vậy, theo quy định trên chỉ có HĐTT mới có thẩm quyền mời chuyên gia tham dự phiên họp. Tuy nhiên, Giấy triệu tập ngày 29/7/2020 của HĐTT mà không có chuyên gia nên AV tin rằng HĐTT đã có đủ thông tin từ các báo cáo chuyên gia và do đó Công ty AV đã không mời chuyên gia của mình đến dự họp. Nhưng vào lúc khai mạc phiên họp, HĐTT bất ngờ cho chuyên gia do Công ty KE mời tham dự và hỏi chuyên gia tại phiên họp mặc dù Công ty AV đã phản đối sự tham gia của chuyên gia do Công ty KE mời. Quyết định bất ngờ và thiên vị này của HĐTT làm cho chuyên gia do Công ty AV mời không có cơ hội tham gia phiên họp và ảnh hưởng đến sự bình đẳng của các bên.
HĐTT vi phạm nguyên tắc: Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật (Khoản 2, điều 4 Luật Trọng tài thương mại). HĐTT không khách quan trong việc sử dụng ý kiến chuyên gia và thủ tục tố tụng, cụ thể: HĐTT cố ý khẳng định ý kiến của các chuyên gia là thống nhất trong khi thực tế ý kiến của chuyên gia hai bên là hoàn toàn trái ngược nhau về vấn đề pháp lý trọng tâm duy nhất của vụ việc là Quyết định phục hồi kinh doanh của Tòa án Hàn Quốc có hiệu lực pháp lý tại Việt Nam hay không. Sau đó HĐTT đi đến kết luận theo hướng sử dụng ý kiến của chuyên gia do Công ty KE mời. Đây là sự thể hiện rõ ràng sự không khách quan, thiên vị đối vớiCông ty KE .
HĐTT đã bỏ qua không đánh giá chứng cứ vô cùng quan trọng đã được Công ty AV giao nộp đồng thời khẳng định Công ty AV không cung cấp chứng cứ đó. Tuy nhiên, Công ty AV đã nộp cho VIAC văn bản ý kiến bổ sung và tài liệu là báo cáo kiểm toán củaCông ty KE năm 2015 đã được xác nhận bởi Quản tài viên của Công ty KE và được chấp thuận bởi Tòa án Hàn Quốc nhưng HĐTT đã không đọc, không đánh giá và phân tích các tài liệu trên.
HĐTT cố tình lảng tránh hoặc giải thích gượng ép và chỉ nêu các vấn đề thứ yếu để đi đến kết luận. Điều đó dẫn đến toàn bộ phán quyết không khách quan và thiếu thuyết phục. HĐTT cũng cố ý trích dẫn sai ý kiến của Công ty AV trong các vấn đề trọng tâm như liên tục khẳng định Công ty AV cho rằng bản án quyết định của Tòa án nước ngoài phải được công nhận bởi Tòa án Việt Nam để được thi hành tại Việt Nam.
HĐTT vi phạm khoản 2 điều 4 Luật trọng tài thương mại vì không tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam khi giải quyết tranh chấp vì Khoản 1 điều 472 Bộ luật tố tụng dân sự quy định rõ ràng rằng Quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam nhưng HĐTT vẫn cố ý không tuân theo quy định này và không có bất cứ một giải thích gì mặc dù AV nhiều lần trình bày. Đây không chỉ là một quy định pháp luật mà còn là một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất của pháp luật Việt Nam nhưng HĐTT đã vi phạm đặc biệt nguyên tắc này khi công nhận hiệu lực pháp lý của Quyết định phục hồi kinh doanh của Tòa án Hàn Quốc. Công ty AV là doanh nghiệp Việt Nam nên cần được pháp luật Việt Nam bảo vệ nhưng HĐTT đang xem mình giống như Tòa án Hàn Quốc xét xử vụ án trên lãnh thổ Hàn Quốc đồng thời xem Công ty AV giống như một công ty của Hàn Quốc. Công ty AV được biết đến nay chưa có Hội đồng xét xử của Tòa án hay HĐTT nào công nhận hiệu lực pháp lý của một quyết định của Tòa án nước ngoài khi chưa được Tòa án Việt Nam công nhận. Phán quyết này của HĐTT nếu có hiệu lực sẽ tạo ra một tiền lệ đặc biệt nguy hiểm trong hoạt động xét xử tại VIAC nói riêng và trọng tài thương mại ở Việt Nam nói chung.
Từ những phân tích trên, Công ty AV đề nghị Tòa án hủy phán quyết trọng tài số 34/19 ngày 04/5/2021 của VIAC.
- Quan điểm củaCông ty KE về yêu cầu hủy phán quyết trọng tài:
Thực tế, Công ty AV đang mượn cớ xin hủy Phán quyết Trọng tài để yêu cầu Tòa án xét xử lại nội dung Vụ việc Trọng tài. HĐTT có toàn quyền đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật giải quyết Vụ việc Trọng tài. Theo pháp luật trọng tài thương mại, TAND Hà Nội không xem xét, xét xử lại nội dung Vụ việc Trọng tài theo yêu cầu của Công ty AV . Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đó là phán quyết trọng tài có tính chung thẩm. Nguyên tắc này được cụ thể hóa rõ rệt hơn tại khoản 4 Điều 71 Luật trọng tài thương mại 2010 và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 15 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, theo đó khi xét đơn yêu cầu, Tòa án không xét lại nội dung vụ tranh chấp. Cụ thể,
Khoản 4 Điều 71 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định: “Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 68 của Luật này và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà HĐTT đã giải quyết”.
Khoản 2 Điều 15 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP quy định: “Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn không xét lại nội dung vụ tranh chấp
Công ty AV cố tình cắt xén, xuyên tạc và diễn giải sai lệch thông tin và nội dung Phán quyết Trọng tài. Quan điểm của Công ty AV cho rằng rằng cứ hễ HĐTT bác bỏ các lập luận mà Công ty AV đưa ra thì Công ty AV cho rằng HĐTT không khách quan, không độc lập và không tuân thủ quy định pháp luật.
Đối với các khiếu kiện về các khoản tiền từ các Hóa đơn Tiền Điện: Hợp đồng Xây dựng được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Dựa trên cơ sở đó, HĐTT nhận định rằng Quyết định của Tòa án Phá sản Seoul không ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật Việt Nam để xem xét các khiếu kiện về các Hóa đơn Tiền Điện.
Đối với các khiếu kiện về các khoản vay từ các hợp đồng vay: theo quy định của các hợp đồng vay, các hợp đồng vay được điều chỉnh bởi pháp luật Hàn Quốc bao gồm quy định tại Điều 251 của Bộ Luật về Phá sản và Phục hồi Kinh doanh rằng các chủ nợ bị mất quyền truy đòi nếu không đăng ký các khoản nợ của mình với quản tài viên và Tòa án Phá sản Hàn Quốc và các khoản nợ đó không được ghi nhận trong Phương án Phục hồi Kinh Doanh của bên mắc nợ. Không có bên nào phản đối hiệu lực pháp luật hoặc giá trị pháp lý của điều khoản chọn pháp luật Hàn Quốc trong suốt quy trình tố tụng trọng tài. Việc công nhận và cho thi hành các quyết định, bản án của tòa án nước ngoài tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam không liên quan đến việc xác định AV có quyền truy đòi các khoản vay từ Công ty KE theo Bộ luật phá sản và phục hồi kinh doanh của Hàn Quốc không. Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật Trọng tài thương mại, đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Trong trường hợp này, hai bên đã lựa chọn pháp luật Hàn Quốc điều chỉnh các hợp đồng vay. Hội đồng Trọng tài không nhận thấy có bất kỳ cơ sở pháp lý nào để chấp nhận lập luận của Công ty AV rằng cần phải áp dụng pháp luật Việt Nam để xác định quyền truy đòi các khoản vay theo các Hợp đồng vay mà được điều chỉnh bởi pháp luật Hàn Quốc. Do đó, việc Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật Hàn Quốc để giải quyết tranh chấp các hợp đồng vay giữa hai bên là hoàn toàn đúng quy định.
Đối với các khiếu kiện về các khoản tiền từ các Hóa đơn Tiền Điện: Không giống với các Hợp đồng vay được điều chỉnh bởi pháp luật Hàn Quốc, Hợp đồng Xây dựng được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam, không phải pháp luật Hàn Quốc. Do vậy, hậu quả pháp lý theo Bộ luật phá sản và phục hồi kinh doanh Hàn Quốc không ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật Việt Nam tại Việt Nam để xem xét các khiếu kiện về các Hóa đơn Tiền Điện được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam theo Hợp đồng Xây dựng.
Đối với các tranh chấp thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Hội đồng Trọng tài, Hội đồng Trọng tài có toàn quyền xem xét, đánh giá và nhận định tài liệu, chứng cứ vụ việc cũng như phân tích, áp dụng pháp luật điều chỉnh hợp đồng để định đoạt, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng giữa các bên. Đây là các vấn đề thuộc nội dung vụ việc mà Hội đồng Trọng tài có toàn quyền quyết định.
Không có cơ sở để Bên Yêu Cầu cho rằng Hội đồng Trọng tài đã vi phạm quy định về việc các bên đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, liên quan đến việc chuyên gia dự phiên họp.
Trong Đơn Yêu Cầu, Công ty AV đã cố tình trích dẫn không đầy đủ thông báo của Hội đồng Trọng tài trong Giấy triệu tập ngày 29/07/2020 nhằm gây nhiễu thông tin cho TAND Hà Nội. Theo đó trong Giấy triệu tập ngày 29/07/2020, Hội đồng Trọng tài đã thông báo rất rõ ràng rằng:
“Tuân theo quy định tại Khoản 3 Điều 25 của Quy tắc Trọng tài, các Bên có quyền mời người làm chứng, mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp và phải thông báo cho Hội đồng Trọng tài trước ngày mở phiên họp giải quyết tranh chấp. Khoản 3 Điều 25 của Quy tắc Trọng tài VIAC quy định “Phiên họp giải quyết vụ tranh chấp không công khai, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Các bên có quyền mời người làm chứng, mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp và phải thông báo cho Hội đồng Trọng tài trước ngày mở phiên họp giải quyết tranh chấp. Hội đồng trọng tài tự mình hoặc theo yêu cầu của một bên, có quyền mời tổ chức, cá nhân giám định, định giá tài sản và chuyên gia theo quy định tại Điều 19 của Quy tắc này tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp.” Như vậy, theo Giấy Triệu tập ngày 29/07/2020, Hội đồng Trọng tài đã thông báo rất rõ ràng về việc tất cả các bên có quyền yêu cầu Hội đồng Trọng tài cho phép chuyên gia tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp ngày 08/09/2020 và phải thông báo cho Hội đồng Trọng tài trước ngày mở phiên họp giải quyết tranh chấp. AV có thực hiện hay không thực hiện các quyền theo quy định khoản 3 điều 25 quy tắc tố tụng trọng tài hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của Công ty AV
Ngày 04/09/2020,Công ty KE đệ trình lên Hội đồng Trọng tài danh sách thành phần tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp ngày 08/09/2020 từ phía Công ty KE , trong đó có tên chuyên gia do Công ty KE chỉ định là Giáo sư Soogeun Oh. Ngày 07/09/2020 VIAC đã thông báo về thành phần tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp ngày 08/09/2020 từ phía Công ty KE cho Công ty AV tuy nhiên, Công ty AV không có ý kiến cũng như phản đối gì. Việc Công ty AV không mời và không yêu cầu Hội đồng Trọng tài cho phép chuyên gia do Công ty AV chỉ định tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp ngày 08/09/2020 là sự lựa chọn của chính Công ty AV . Điều này không làm ảnh hưởng đến hay làm mất đi quyền của Công ty KE được mời và được yêu cầu Hội đồng Trọng tài cho phép chuyên gia của mình tham gia phiên họp.
Về việc Công ty AV cho rằng Hội đồng Trọng tài vi phạm quy định về độc lập, khách quan, vô tư và không tuân theo quy định pháp luật. Theo đó tất cả các lý do mà Công ty AV đưa ra (vấn đề về áp dụng pháp luật, xem xét các hợp đồng vay, hóa đơn tiền điện) đều là các vấn đề nội dung thuộc toàn quyền quyết định của Hội đồng Trọng tài. Theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại, TAND Hà Nội không xem xét lại tất cả các vấn đề này.
Dựa trên các cơ sở này, Công ty KE đề nghị Tòa án Hà Nội bác bỏ các lập luận xuyên tạc, sai lệch và vô căn cứ của Công ty AV về yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và quyết định không hủy Phán quyết trọng tài.
Tại phiên họp xét đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài:
Bên yêu cầu trình bày: Bên yêu cầu giữ nguyên yêu cầu đề nghị Hội đồng xét đơn hủy Phán quyết trọng tài theo các chứng cứ, tài liệu đã cung cấp và trình bày trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.
Bên liên quan trình bày: Bên liên quan giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại Tòa và đề nghị Hội đồng xét đơn không chấp nhận Đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài vì các lý do Bên yêu cầu đưa ra không có căn cứ pháp lý. HĐTT đã xét xử vụ kiện đúng theo quy định của pháp luật và Quy tắc trọng tài vụ tranh chấp 34/19 ngày 04/5/2021 của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:
Hội đồng xét đơn đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng, đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về đơn yêu cầu huỷ Phán quyết trọng tài nộp đúng thời gian luật định. Phán quyết trọng tài đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài của Bên yêu cầu. Cụ thể là HĐTT đúng thành phần và trong quá trình xét xử HĐTT không vi phạm Quy tắc trọng tài. Nội dung Phán quyết không trái với những nguyên tắc cơ bản pháp luật Việt Nam. Phán quyết trọng tài không vi phạm một trong các trường hợp quy định tại Điều 68 LTTTM, đề nghị Hội đồng xét đơn ra Quyết định không hủy Phán quyết trọng tài.
XÉT THẤY
Sau khi xem xét Đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 34/19 của VIAC ban hành ngày 04/5/2021 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, ý kiến của những người được triệu tập đến phiên họp và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội, Hội đồng xét đơn nhận thấy:
Về tố tụng:
Ngày 04/5/2021, VIAC ban hành Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 34/19, ngày 10/5/2021 Công ty AV nhận được Phán quyết trọng tài. Ngày 04/6/2021 Tòa án nhân dân TP Hà Nội nhận được Đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài của bên yêu cầu là Công ty AV , theo quy định tại khoản 2 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm g khoản 2, khoản 3 Điều 7, Điều 69 luật Trọng tài thương mại thì Bên yêu cầu nộp đơn trong thời hạn luật định và Tòa án nhân dân TP Hà Nội tiến hành thụ lý và giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Xét các căn cứ mà bên yêu cầu đưa ra để đề nghị Tòa án hủy phán quyết trọng tài, Hội đồng xét đơn thấy:
Bên yêu cầu đưa ra căn cứ pháp lý hủy Phán quyết là điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010: Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, cụ thể là các nguyên tắc:
Nguyên tắc cơ bản thứ nhất: Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình (khoản 3 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại).
Nguyên tắc cơ bản thứ hai: Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại).
Nguyên tắc cơ bản thứ ba: Quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam (khoản 1 Điều 427 Bộ luật Tố tụng dân sự).
Xét các căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Bên yêu cầu, thấy:
Trong quá trình giải quyết vụ việc tại VIAC, căn cứ vào ý kiến của các bên về nội dung tranh chấp VIAC đã có văn bản gửi cho các chuyên gia của từng bên yêu cầu trả lời các câu hỏi (nội dung giống nhau) để Hội đồng trọng tài xem xét, đánh giá và các chuyên gia của các bên đều đã có văn bản trả lời.
Hội đồng trọng tài đã có Giấy triệu tập các bên đến phiên họp ngày 08/9/2020, các bên đều đã nhận được và trong đó Công ty KE có văn bản đề ngày 04/9/2020 gửi Hội đồng trọng tài danh sách người tham gia phiên họp của mình trong đó có chuyên gia về luật Hàn Quốc và có đề xuất xin thêm thời gian để trình bày cũng như đồng ý bố trí thời gian trương ứng (bằng) cũng được phân bổ cho nguyên đơn nếu họ có yêu cầu tương tự. Văn bản này của Công ty KE đã được VIAC chuyển cho Công ty AV biết. Tuy nhiên, tại phiên họp 8/9/2020 bên Công ty AV không có chuyên gia đến đến cùng và phần thủ tục bắt đầu phiên họp thì Công ty AV không thắc mắc phản đối gì việc Công ty KE có chuyên gia cùng tham dự còn mình thì không có. Như vậy, việc có chuyên gia của Công ty KE là công khai, rõ ràng, về phía Công ty AV không phản đối mà vẫn tham gia phiên họp này. Phiên họp ngày 08/9/2020 cũng không phải là phiên họp cuối cùng mà phiên họp cuối cùng là ngày 05/4/2021 và từ ngày 08/9/2020 đến ngày 05/4/2021 Công ty AV không hề có văn bản nào phản đối việc Công ty AV không được mời chuyên gia đến tham dự phiên họp của Hội đồng trọng tài nên theo Điều 13 Luật Trọng tài thương mại thì Công ty AV mất quyền phản đối và theo Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đây cũng không phải là căn cứ để yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài.
Đối với lý do căn cứ thứ 2 mà Công ty AV cho rằng Hội đồng trọng tài không khách quan, vô tư khi đi theo hướng sử dụng ý kiến của chuyên gia Công ty KE , giải thích gượng ép các ý kiến của Công ty AV , không xem xét báo cáo kiểm toán năm 2015 mà Công ty AV nộp. Về nội dung này, thấy: Các ý kiến lập luận của các bên được nêu đầy đủ trong phán quyết trong đó có liên quan đến báo cáo kiểm toán (mục 137+146), việc giải thích, đánh giá nhận định là quyền của Hội đồng trọng tài căn cứ vào quy định pháp luật nên không có căn cứ xác định các trọng tài viên không khách quan vô tư khi đưa ra phán quyết.
Đối với căn cứ thứ 3 mà Công ty AV đưa ra: HĐTT vi phạm khoản 2 điều 4 Luật trọng tài thương mại vì không tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam khi giải quyết tranh chấp vì Khoản 1 điều 472 Bộ luật tố tụng dân sự quy định rõ ràng rằng Quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam, thấy rằng:
Do hợp đồng vay các bên xác định Luật áp dụng là Luật Hàn Quốc nên Hội đồng trọng tài đã căn cứ vào vào luật Hàn Quốc để giải quyết.
Công ty AV cho rằng Hội đồng trọng tài đã căn cứ vào Quyết định của Tòa án phá sản Seoul về việc chấp thuận phương án phục hồi kinh doanh của Công ty KE để Công ty AV mất quyền truy đòi nợ (khoản vay) trong khi Quyết định này chưa được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Thấy rằng, các bên đều xác nhận Công ty AV không báo cáo và đăng ký các khoản nợ của mình tại Tòa án phá sản Seoul trong kế hoạch phục hồi kinh doanh của Công ty KE được Tòa án phá sản Seoul chấp thuận, Hội đồng xét đơn đã áp dụng Bộ luật phá sản và phục hồi kinh doanh của Hàn Quốc để giải quyết và Hội đồng trọng tài đã xem xét đến ý kiến của các chuyên gia của hai bên về quy định pháp luật phá sản của Hàn Quốc (điều 251) liên quan đến phá sản và phục hồi kinh doanh, quyền của chủ nợ không đăng ký với kế hoạch phục hồi của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật phá sản Hàn Quốc. Theo đó theo quy định tại Điều 251 của Bộ Luật về Phá sản và Phục hồi Kinh doanh, các chủ nợ bị mất quyền truy đòi nếu không đăng ký các khoản nợ của mình với quản tài viên và Tòa án Phá sản Hàn Quốc và các khoản nợ đó không được ghi nhận trong Phương án Phục hồi Kinh Doanh của bên mắc nợ.
Như vậy, việc công nhận và cho thi hành các quyết định, bản án của tòa án nước ngoài tại Việt Nam (Tòa án phá sản Seoul) theo pháp luật Việt Nam không liên quan đến việc xác định Công ty AV có quyền truy đòi các khoản vay từ Công ty KE hay không theo quy định của luật phá sản Hàn Quốc. Đối với các khiếu kiện về các khoản tiền từ các Hóa đơn Tiền Điện: Hợp đồng Xây dựng được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam, Hội đồng trọng tài đã Quyết định theo pháp luật Việt Nam.
Từ những phân tích trên, thấy rằng: Hội đồng trọng tài đã xem xét đầy đủ các bản ý kiến, bản tự bảo vệ của Công ty AV và Công ty KE đồng thời viện dẫn các quy định của pháp luật để nhận định về nội dung vụ việc, đánh giá tính hợp pháp của sự kiện pháp lý. Việc quyết định đường lối giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài. Hội đồng xét đơn không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết theo quy định tại khoản 4 điều 71 Luật trọng tài thương mại và khoản 2 điều 15 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Từ những phân tích trên, thấy: Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 34/19 không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 68 Luật Trọng tài thương mại. Do vậy, yêu cầu của Công ty AV về việc đề nghị hủy phán quyết trọng tài không được chấp nhận.
Về lệ phí: Bên yêu cầu phải chịu lệ phí xét đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
- Căn cứ khoản 2 Điều 31, Điều 414, Điều 415 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 3, Điều 68, Điều 69, Điều 71 và Điều 72 Luật trọng tài thương mại;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Một thành viên AV về việc đề nghị hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 34/19 ngày 04/5/2021 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC).
2. Về lệ phí: Công ty TNHH Một thành viên AV phải chịu 500.000 (năm trăm nghìn) đồng lệ phí yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0000230 ngày 08/7/2021 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
3. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, các bên đương sự, Hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị.
| Nơi nhận: - Các bên đương sự; - HĐTT VIAC; - Cục THADS TP. Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - Lưu hồ sơ, VP, TKT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT ĐƠN YÊU CẦU THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Minh Thành |