vanban.org

Quyết định 01/2026/QĐST-LĐ — Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị Ngọc H (do bà Trần Thị Ngọc N thực hiện) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên P từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012 là vô hiệu. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để thực hiện thủ tục về bảo hiểm xã hội theo quy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Trần Thị Ngọc Hương - Công ty"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Lao động; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2026/QĐST-LĐVĩnh Long, ngày 23 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Lăng

Thư ký phiên họp: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long tham gia phiên họp: Bà Trần Hiền Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2026/TLST-LĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026 về việc “yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp số: 20/2026/QĐST-LĐ ngày 09 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1991; Nơi cư trú: xxB, ấp THĐ, xã PT, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên P. Trụ sở: Lô E4 - E5 - E10 - E11 Khu Công nghiệp GL, xã GL, tỉnh Vĩnh Long. Người đại diện theo pháp luật: Ông BIN W - Tổng giám đốc (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

2. Bà Trần Thị Ngọc N, sinh năm 1995; Nơi cư trú: ấp PT, xã PT, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, bà Trần Thị Ngọc H trình bày: Từ tháng 9/2008 đến tháng 5/2024, bà Trần Thị Ngọc H có ký hợp đồng lao động, làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Bến Tre, sổ bảo hiểm xã hội số 8308007951. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012, bà H có cho bà Trần Thị Ngọc N (thời điểm đó chưa đủ 18 tuổi) mượn giấy tờ của bà H để đi làm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên P (sau đây viết tắt là công ty TNHH MTV P) và tham gia bảo hiểm xã hội, sổ bảo hiểm xã hội số xxxxxxxxxx.

Bà H nhận thức việc bà cho bà N mượn chứng minh nhân dân để bà N ký hợp đồng lao động là sai. Việc bà N dùng tên của bà ký hợp đồng lao động là không trung thực. Do đó, bà Trần Thị Ngọc H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị Ngọc H (do bà Trần Thị Ngọc N thực hiện) với công ty TNHH MTV P từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012 là vô hiệu do không đúng về nhân thân. Bà H không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.

Tại hợp đồng lao động số 7102856 ngày 07/8/2011 do Công ty TNHH MTV P giao nộp và tại Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt của người đại diện theo pháp luật của công ty, có cơ sở xác định ngày 07/8/2011 bà Trần Thị Ngọc H có ký hợp đồng lao động tại công ty TNHH MTV P và có tham gia bảo hiểm xã hội. Công ty TNHH MTV P không có ý kiến gì về yêu cầu của bà H và đề nghị được giải quyết vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 09/3/2026, bà Trần Thị Ngọc N trình bày: Từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012, bà có mượn chứng minh nhân dân của bà Trần Thị Ngọc H đi làm và tham gia bảo hiểm xã hội tại công ty TNHH MTV P. Nay bà N đồng ý với yêu cầu của bà H về việc tuyên bố hợp đồng lao động lao động giữa bà Trần Thị Ngọc H (do bà N thực hiện) với công ty TNHH MTV P từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012 là vô hiệu, do người trực tiếp ký hợp đồng là bà N, không phải bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết việc dân sự đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chủ tọa phiên họp, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự phiên họp. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc H về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị Ngọc H (do bà Trần Thị Ngọc N thực hiện) với Công ty TNHH MTV P từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012 vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cư có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Ngọc H có đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa Trần Thị Ngọc H (do bà Trần Thị Ngọc N thực hiện) với công ty TNHH MTV P từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012 vô hiệu, nơi giao kết và thực hiện hợp đồng tại công ty TNHH MTV P có địa chỉ tại xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là xã Giao Long, tỉnh Vĩnh Long). Đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết nên căn cứ vào Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung yêu cầu:

Căn cứ lời trình bày của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự, có cơ sở xác định: bà Trần Thị Ngọc N mượn hồ sơ cá nhân của bà Trần Thị Ngọc H để giao kết hợp đồng lao động với công ty TNHH MTV P và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số xxxxxxxxxx từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012; trong khi đó, trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 5/2024, bà Trần Thị Ngọc H có ký hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội tại công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Bến Tre, sổ bảo hiểm xã hội số 8308007951.

Xét thấy việc bà Trần Thị Ngọc N lấy tên bà Trần Thị Ngọc H để ký hợp đồng lao động với công ty TNHH MTV P là không đúng chủ thể trong giao kết hợp đồng, đã vi phạm nguyên tắc trung thực và nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc H về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị Ngọc H (do bà Trần Thị Ngọc N thực hiện) với công ty TNHH MTV P từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012 là vô hiệu.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.

Về lệ phí: Bà Trần Thị Ngọc H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 367, Điều 370; Điều 371, Điều 372, Điều 401 và 402 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 6 và khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

[1] Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Thị Ngọc H (do bà Trần Thị Ngọc N thực hiện) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên P từ tháng 8/2011 đến tháng 6/2012 là vô hiệu.

Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để thực hiện thủ tục về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

[2] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng lệ phí số 0002325 ngày 02/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Trần Thị Ngọc H đã nộp đủ lệ phí.

[3] Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[4] Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ