- Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Nguyễn Thị M - Công ty TNHH H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M: Tuyên bố hợp đồng lao động giao kết giữa người sử dụng lao động Công ty TNHH H và người lao động chị Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng) từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009 là vô hiệu toàn bộ.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2026/QĐST-LĐ | Hải Phòng, ngày 24 tháng 4 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh
Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Lương Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 16/2026/TLST-VLĐ ngày 02/4/2026 về việc “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2026/QĐST-VLĐ ngày 10/4/2026, Quyết định hoãn phiên họp số 07/2026/QĐST-LĐ ngày 07/4/2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị M, sinh ngày 26/7/1987, số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi thường trú: Thôn A 2, xã P, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Công ty TNHH H.
Địa chỉ: Thôn X, xã G, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Kim Hyung J - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lee Jung Y - Chức vụ: Phó Tổng giám đốc (Văn bản uỷ quyền ngày 20/9/2024). Vắng mặt.
2.2. Bảo hiểm xã hội cơ sở D.
Địa chỉ: số 7, đường TN, phường HD, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Văn Q, chức vụ: Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội cơ sở D (Giấy uỷ quyền thường xuyên ngày 30/10/2025). Vắng mặt.
2.3. Chị Nguyễn Thị K, sinh ngày 03/7/1990, số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi thường trú: Thôn B, xã T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu chị Nguyễn Thị M trình bày:
Chị và chị Nguyễn Thị K là chị em họ. Tháng 01 năm 2007, chị cho chị K mượn chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx mang tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 26/7/1987 để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH H, địa chỉ trụ sở chính công ty: Thôn L, xã E, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở nơi chị K làm việc: Khu công nghiệp S, phường C, thành phố Hải Phòng. Sau đó, chị K và công ty đã ký hợp đồng lao động. Cùng thời điểm đó, chị làm công nhân tại Công ty TNHH May mặc quốc tế N. Chị K làm việc tại Công ty TNHH H từ tháng 01/2007 đến tháng 08/2009 với danh nghĩa tên Nguyễn Thị M và được công ty tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo tên của chị M. Do vậy, chị Nguyễn Thị M có 02 sổ bảo hiểm xã hội mã 8607019xxx và 8606002xxx.
Chị làm việc tại Công ty TNHH May mặc quốc tế N từ tháng 10/2005 đến năm 2020 thì chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty. Chị đã hưởng chế độ thai sản và hưởng chế độ thất nghiệp theo sổ bảo hiểm mã số 8606002xxx. Ngoài ra, chị không hưởng khoản tiền bảo hiểm xã hội khác. Do thời gian đã lâu, chị và chị K không còn lưu giữ Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH H và người lao động Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký) để cung cấp cho Tòa án.
Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động tại Công ty TNHH H thì chị K đã tự đi làm thủ tục rút bảo hiểm một lần số tiền 4.469.184đ vào năm 2010 và sử dụng số tiền này, chị không được hưởng.
Chị nhận thức việc chị cho chị K mượn hồ sơ tư pháp mang tên Nguyễn Thị M để chị K ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H là gian dối, vi phạm nguyên tắc trung thực khi ký kết hợp đồng lao động. Do vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tuyên bố: Hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH TNHH H với người lao động Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký) là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu, trả lại cho Công ty TNHH H số tiền cơ quan Bảo hiểm xã hội thoái thu thời gian đóng trùng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009 theo tính toán của Bảo hiểm xã hội cơ sở D, chị K phải hoàn trả cho Bảo hiểm xã hội cơ sở D số tiền hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần của sổ bảo hiểm số 8607019xxx là 4.469.184đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị K trình bày:
Chị và chị Nguyễn Thị M là chị em con chú con bác. Do không hiểu biết pháp luật nên năm 2007 chị mượn chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx mang tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 26/7/1987 để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH H, địa chỉ trụ sở chính của công ty: Thôn L, xã E, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở nơi chị làm việc: Khu công nghiệp S, phường C, thành phố Hải Phòng. Sau khi xem xét hồ sơ, Công ty TNHH H đã ký hợp đồng lao động với chị theo đúng quy định của pháp luật. Do thời gian đã lâu nên chị không còn lưu giữ hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH H và chị. Khi Công ty TNHH H ký hợp đồng với chị, chị cũng không nói cho Công ty biết việc chị mượn hồ sơ của chị M nên công ty không biết. Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội cho chị theo tên của chị Nguyễn Thị M từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009, đã được Cơ quan bảo hiểm xã hội làm thủ tục cấp mã số sổ bảo hiểm là 8607019xxx mang tên của chị Nguyễn Thị M. Cùng thời điểm đó, chị Nguyễn Thị M làm công nhân tại Công ty TNHH May mặc quốc tế N. Tháng 8/2009, chị xin nghỉ việc tại Công ty TNHH H và đi làm thủ tục thanh toán bảo hiểm một lần đối với số tiền bảo hiểm Công ty TNHH H đóng, được Bảo hiểm xã hội huyện S thanh toán số tiền bảo hiểm một lần là 4.469.184đ. Khi chị làm thủ tục thanh toán bảo hiểm một lần, chị vẫn lấy tên chị Nguyễn Thị M để thanh toán, chị là người được hưởng số tiền bảo hiểm một lần và đã chi tiêu cá nhân hết số tiền này.
Đến nay, chị K nhận thấy việc mượn hồ sơ tư pháp của chị M để làm hồ sơ xin việc và đứng tên chị M là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi của chị M. Chị nhất trí với quan điểm của chị M, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH H và chị Nguyễn Thị M (do chị đứng tên ký) là vô hiệu theo quy định pháp luật và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Trường hợp số tiền bảo hiểm chị đã làm thủ tục rút một lần trong thời gian chị mượn hồ sơ tư pháp của chị M làm việc tại Công ty TNHH H từ tháng 01/2007 đến tháng 8/2009 phải trả lại cho bảo hiểm thì chị cũng nhất trí.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H trình bày:
Do thời gian đã lâu nên hợp đồng lao động giữa chị Nguyễn Thị M và Công ty đã bị thất lạc nên Công ty không cung cấp được cho Tòa án. Thời gian chị M làm việc tại Công ty TNHH H từ tháng 10/2006 đến tháng 8/2009. Việc chị Nguyễn Thị Nguyễn Thị K lấy tên chị Nguyễn Thị M để ký kết hợp đồng lao động với Công ty thì Công ty không biết do nhân viên nhân sự thời điểm đó đến nay không còn làm việc nên không xác nhận được, tuy nhiên theo quy định của công ty là hồ sơ phải đảm bảo tính chân thực, chính xác, trường hợp người lao động gian dối, giả mạo hồ sơ sẽ bị tính là vi phạm nội quy công ty và bị xử lý theo quy định. Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị M về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa công ty và chị M vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Công ty TNHH H đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc, tại các phiên họp giải quyết việc lao động.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D trình bày:
Căn cứ vào dữ liệu Hệ thống quản lý thu và sổ thẻ, Hệ thống quản lý chính sách của ngành, Bảo hiểm xã hội cơ sở D cung cấp thông tin về người lao động tên Nguyễn Thị M, sinh ngày 26/7/1987, số CMND xxxxxxxxx, mã số BHXH 8607019xxx, có thời gian đóng BHXH BHTN từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009 tại Công ty TNHH H, đã được cấp sổ và chốt sổ bảo lưu xác nhận quá trình; có thông tin dữ liệu đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 6156/QĐ-BHXH ngày 01/10/2010 tại BHXH huyện S (cũ) với số tiền 4.469.184 đồng, chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đồng thời có thời gian tham gia đóng BHXH BHTN từ tháng 10/2005 đến tháng 9/2020 tại Công ty TNHH may mặc quốc tế N với mã số BHXH 8606002xxx. Thời gian đóng trùng BHXH BHTN tại 02 công ty, 2 mã số BHXH từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009.
Theo nội dung vụ việc, chị M nhận thức việc chị K mượn hồ sơ của chị M ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H là gian dối, vi phạm nguyên tắc trung thực khi ký kết hợp đồng lao động. Trường hợp cần phải thoái thu số tiền bảo hiểm đã đóng để hoàn trả cho Công ty, thì số tiền này được xác định theo tỉ lệ đóng BHXH, BHTN của từng thời điểm và theo quy trình thoái thu của ngành BHXH. Tuy nhiên, do sổ BHXH mã số 8607019xxx đã được giải quyết hưởng BHXH một lần, vì vậy, nếu phải thoái thu số tiền đã đóng thì chị K (mang tên chị M) phải hoàn trả lại số tiền đã hưởng 4.469.184 đồng về quỹ BHXH cho cơ quan BHXH nơi đã giải quyết. Đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi có quyết định của Tòa án, căn cứ chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ – BNN cho người lao động, Bảo hiểm xã hội cơ sở D sẽ thực hiện theo đúng quy định.
Tại phiên họp:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xác định Thẩm phán, thư ký phiên họp, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, các điều 149, 367, 370, 371, 372, 401, 402 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 122, 127, 132 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 29 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 52 Bộ luật Lao động 2012; các điều 15, 16, 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M: Tuyên bố hợp đồng lao động giao kết giữa người sử dụng lao động Công ty TNHH H và người lao động chị Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng) từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009 là vô hiệu toàn bộ.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Thoái thu số tiền bảo hiểm do Công ty TNHH H đã đóng cho chị Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng lao động) từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009 tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 8607019xxx theo tỷ lệ đóng BHXH, BHTN của từng thời điểm và quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội. Chị Nguyễn Thị K phải trả lại cho Bảo hiểm xã hội cơ sở D số tiền hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần của sổ bảo hiểm xã hội mã số 8607019xxx là 4.469.184 đồng.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH H với người lao động mang tên Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký) là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty TNHH H có trụ sở chính tại: Thôn L, xã E, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở nơi chị K làm việc: Khu công nghiệp S, phường C, thành phố Hải Phòng. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng; đồng thời xác định quan hệ pháp luật là tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị K, đại diện Công ty TNHH H, đại diện BHXH cơ sở D có đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 361, Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH H với người lao động mang tên Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng) vô hiệu: Quá trình giải quyết việc lao động, mặc dù người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xuất trình được hợp đồng lao động ký kết giữa chị M (do chị K ký) với Công ty TNHH H vì thời gian đã lâu, hợp đồng lao động bị thất lạc. Tuy nhiên, căn cứ lời khai chị M, chị K, lời khai của người đại diện của Công ty TNHH H và cung cấp của Bảo hiểm xã hội cơ sở D về quá trình tham gia bảo hiểm của chị Nguyễn Thị M, có cơ sở xác định Công ty TNHH H đã ký kết Hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị M nhưng do chị Nguyễn Thị K ký và chị K là người trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH H. Việc chị K mượn hồ sơ tư pháp chị M làm hồ sơ xin việc và đứng tên chị M để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H là giả mạo khi giao kết hợp đồng. Vì vậy, yêu cầu của chị M đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa người lao động tên Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký) và Công ty TNHH H vô hiệu là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu:
Như phân tích ở trên, hợp đồng lao động giữa người lao động tên Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký) và Công ty TNHH H vô hiệu nên đề nghị của chị M giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu là phù hợp pháp luật. Quá trình chị K làm việc, Công ty đã đóng bảo hiểm từ tháng 01/2007 đến hết tháng 7/2009 theo số sổ bảo hiểm là 8607019xxx. Căn cứ vào tài liệu ghi quá trình đóng BHXH, BHTN và quan điểm của chị M, chị K và Bảo hiểm xã hội cơ sở D, cần hoàn trả cho Công ty TNHH H số tiền bảo hiểm đã đóng cho chị M (do chị K ký) từ tháng 01/2007 đến hết tháng 7/2009 tại sổ BHXH mã số 8607019xxx theo tỷ lệ và quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội.
Sau khi chị K nghỉ việc tại Công ty TNHH H, chị K đã làm hồ sơ giải quyết chế độ bảo hiểm một lần, số tiền được thanh toán là 4.469.184 đồng. Đối với số tiền này, chị K sử dụng toàn bộ, các bên đều thống nhất chị K hoàn trả cho Bảo hiểm xã hội cơ sở D nên được Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu lệ phí sơ thẩm việc dân sự theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, các điều 149, 367, 370, 371, 372, 401, 402 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 122, 127, 132 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 29 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 52 Bộ luật Lao động 2012; các điều 15, 16, 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M: Tuyên bố hợp đồng lao động giao kết giữa người sử dụng lao động Công ty TNHH H và người lao động chị Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng) từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009 là vô hiệu toàn bộ.
2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ:
Thoái thu số tiền bảo hiểm do Công ty TNHH H đã đóng cho chị Nguyễn Thị M (do chị Nguyễn Thị K ký hợp đồng lao động) từ tháng 01/2007 đến tháng 7/2009 tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 8607019xxx theo tỷ lệ đóng BHXH, BHTN của từng thời điểm và quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội.
Chị Nguyễn Thị K phải trả lại cho Bảo hiểm xã hội cơ sở D số tiền hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần của sổ bảo hiểm xã hội mã số 8607019xxx là 4.469.184 đồng.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/26E, số 0003524 ngày 02/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm việc dân sự.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 – Hải Phòng; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Phòng THADS khu vực 8 -Hải Phòng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Thị Hoài Thanh |