- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Chị Ngọc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bích Ng.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2025/QĐST-LĐ | P, ngày 10 tháng 7 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“Về việc: Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu”
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - P
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị H
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - P mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 17/2025/TLST-LĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 về việc “Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 181/2025/QĐST-LĐ ngày 04 tháng 7 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị Bích Ng, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Địa chỉ: Khu 01, xã P, huyện P, tỉnh P (nay là xã P, tỉnh P).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII.
Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường T, thành phố V, tỉnh P (nay là phường V, tỉnh P);
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Quốc Th; Chức vụ: Trưởng phòng quản lý thu và PTNTG và ông Vũ Đức Tr; Chức vụ: Chuyên viên phòng quản lý thu và PTNTG.
2. Công ty TNHH V.
Địa chỉ: Lô số 10, khu công nghiệp T, thành phố V, tỉnh P (nay là phường Nông Trang, tỉnh P).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Cao C, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Khu Thọ M, phường T, thành phố V, tỉnh P (nay là phường T, tỉnh P).
3. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Khu 2, xã P, huyện P, tỉnh P (nay là xã P, tỉnh P)
(Các đương sự đều xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai chị Nguyễn Thị Bích Ng trình bày: Tháng 04/2007 do không hiểu biết pháp luật, chị có cho chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu 02, xã P, huyện P, tỉnh P (nay là xã P, tỉnh P) mượn một bộ hồ sơ xin việc mang tên chị là Nguyễn Thị Bích Ng để xin vào làm việc tại Công ty TNHH V có địa chỉ tại khu công nghiệp T, thành phố V, tỉnh P. Sau khi vào làm việc thì chị T và Công ty TNHH V đã ký kết hợp đồng lao động mang tên Nguyễn Thị Bích Ng. Chị T đã làm việc tại Công ty TNHH V và được đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật với mã số bảo hiểm xã hội 8207013528 cho đến tháng 09/2009 thì thôi việc. Cũng trong khoảng thời gian này chị làm việc và đóng bảo hiểm xã hội theo mã số bảo hiểm 8207003623 tại Công ty TNHH KEE-EUN Việt Nam. Đến nay chị được cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P (nay là Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII) thông báo chị đã bị trùng đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 04/2007 đến tháng 09/2009, lý do là có một hợp đồng lao động mang tên Nguyễn Thị Bích Ng do người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị T mượn hồ sơ dưới tên chị đã đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH V. Nay chị xác định việc cho chị Nguyễn Thị T mượn hồ sơ xin việc là không đúng và trái quy định của pháp luật, vì vậy chị làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - P) tuyên hủy hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH V với chị Nguyễn Thị T nhưng lấy tên chị là Nguyễn Thị Bích Ng tháng 4/2007 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 số sổ bảo hiểm 8207013528 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P (nay là Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII) và chị đồng ý trả lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T trình bày: Tháng 04/2007 do chị không hiểu biết pháp luật, nên đã mượn của Nguyễn Thị Bích Ng một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty TNHH V có địa chỉ: Khu công nghiệp T, thành phố V, tỉnh P. Sau khi vào làm việc Công ty TNHH V đã ký hợp đồng lao động với chị nhưng lấy tên chị Nguyễn Thị Bích Ng và Công ty đã đóng bảo hiểm cho chị từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 thì chị xin nghỉ việc không làm ở Công ty TNHH V nữa, số sổ bảo hiểm là 8207013528. Trong thời gian chị làm việc ở Công ty TNHH V thì chị Nguyễn Thị Bích Ng đang làm việc tại Công ty TNHH KEE-EUN Việt Nam và được Công ty TNHH KEE-EUN Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội nên có thời gian đóng trùng bảo hiểm với nhau. Nay chị Nguyễn Thị Bích Ng yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa chị nhưng lấy tên chị Nguyễn Thị Bích Ng và Công ty TNHH V tháng 4/2007 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 tại số sổ bảo hiểm 8207013528 theo sự tính toán của Cơ quan bảo hiểm chị hoàn toàn đồng ý và chị mong muốn được nhận lại số tiền thoái thu bảo hiểm xã hội này cho người lao động thực tế là chị. Hiện nay do thời gian đã lâu nên chị không còn lưu giữ Hợp đồng lao động ký giữa chị dưới tên chị Nguyễn Thị Bích Ng với Công ty V nên không thể nộp cho Tòa án được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh P (nay là Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII) do ông Vũ Đức Trường là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Qua rà soát bảo hiểm xã hội (BHXH) trên hệ thống, phát hiện trường hợp bà Nguyễn Thị Bích Ng, sinh năm 1986 ở xã Phú Lộc, huyện P, tỉnh P có 02 số sổ BHXH bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, cụ thể:
Số sổ 1: 8207013528 được cấp tại Công ty TNHH V, xã T, thành phố V, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 04/2007 đến tháng 09/2009.
Số sổ 2: 8207003623 được cấp tại Công Ty TNHH Kee Eun - Việt Nam, xã xã T, thành phố V, tỉnh P có thời gian tham gia BHXH từ tháng 01/2006 đến 03/2016.
Tháng 07/2007, bà Nguyễn Thị T (người mượn hồ sơ) đi làm tại Công ty TNHH V và tham gia BHXH theo mã số BHXH 8207013528. Thời điểm đó bà Nguyễn Thị Bích Ng đang làm việc và có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công Ty TNHH Kee Eun - Việt Nam theo mã số BHXH 8207003623.
Nay bà Nguyễn Thị Bích Ng trình bày là do thiếu hiểu biết nên đã cho bà Nguyễn Thị T mượn hồ sơ để đi làm, cụ thể: Bà Nguyễn Thị T đã lấy 01 bộ hồ sơ, sơ yếu lý lịch mang tên Nguyễn Thị Bích Ng để xin việc tại Công ty TNHH V. Trong thời gian bà Nguyễn Thị T làm việc dưới tên Nguyễn Thị Bích Ng tại Công ty TNHH V thì bà Nguyễn Thị Bích Ng đang làm việc tại Công Ty TNHH Kee Eun
- Việt Nam, vì vậy người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH V và làm việc tại Công ty TNHH V là bà Nguyễn Thị T.
Đối với việc đóng BHXH: Sau khi công ty và người lao động ký hợp đồng lao động, công ty sẽ gửi hồ sơ, danh sách người lao động đến cơ quan BHXH để làm thủ tục đóng BHXH theo quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Điều này đã dẫn đến việc bà Nguyễn Thị Bích Ng có 02 số sổ BHXH trùng thời gian đóng BHXH tại 02 nơi làm việc khác nhau. Quan điểm của Bảo hiểm xã hội tỉnh P nay là Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích Ng như sau:
- Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích Ng.
- Đề nghị và yêu cầu cơ quan Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII: Thoái thu thời gian tham gia BHXH của mã số BHXH 8207013528, mang tên Nguyễn Thị Bích Ng từ tháng 04/2007 đến tháng 09/2009 tại Công ty TNHH V, với tổng số tiền là: 4.869.906đ (Bốn triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm linh sáu đồng). Ngoài ra do công việc bận nên Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII đề nghị được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V do ông Ngô Cao Cường là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Tháng 4/2007, Công ty TNHH V có ký hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị Bích Ng. Sau khi ký Hợp đồng lao động Công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho chị Nguyễn Thị Bích Ng từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 thì chị Ng xin nghỉ việc, số sổ bảo hiểm xã hội là 8207013528 tại Cơ quan bảo hiểm tỉnh P. Đến nay, chị Nguyễn Thị Bích Ng có đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động ký tháng 4/2007 giữa Công ty TNHH V với chị Nguyễn Thị Bích Ng là vô hiệu do có sự lừa dối với lý do chị không hiểu biết pháp luật nên đã cho chị Nguyễn Thị T mượn một bộ hồ sơ để xin việc tại Công ty TNHH V. Khi ký Hợp đồng lao động với Công ty TNHH V, chị Nguyễn Thị T đã lấy tên của chị Nguyễn Thị Bích Ng và Công ty đã đóng bảo hiểm cho Nguyễn Thị Bích Ng (nhưng người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị T) tại số sổ bảo hiểm 8207013528 từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009.
Nay chị Nguyễn Thị Bích Ng yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tuyên hủy Hợp đồng lao động ký giữa chị Nguyễn Thị Bích Ng (do chị Nguyễn Thị T mượn hồ sơ) và Công ty TNHH V tháng 4/2007 là vô hiệu do có sự lừa dối và đề nghị thoái thu thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 số sổ bảo hiểm là 8207013528.
Quan điểm của Công ty TNHH V: Công ty đồng ý Hợp đồng lao động ký tháng 4/2007 giữa Công ty TNHH V và chị Nguyễn Thị Bích Ng (thực tế do chị Nguyễn Thị T ký) là vô hiệu. Công ty cũng nhất trí với số tiền thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII và số tiền thoái thu này được trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị T. Do khi người lao động nghỉ việc nên Công ty TNHH V đã trả lại hồ sơ xin việc cho công nhân nên không còn lưu giữ bản Hợp đồng lao động nào. Ngoài ra do công việc bận nên Công ty TNHH V xin được vắng mặt trong tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử, phiên họp giải quyết vụ việc nêu trên của Tòa án.
* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp và đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bích Ng. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH V với chị Nguyễn Thị Bích Ng tháng 04/2007 (do chị Nguyễn Thị T mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ và giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ là yêu cầu Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 tại sổ bảo hiểm xã hội số 8207013528 cấp tại Công ty TNHH V. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII là 4.869.906đ (Bốn triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm linh sáu đồng) được trả lại cho chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị Bích Ng phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 1 - P nhận định:
. Về tố tụng: Hợp đồng lao động chị Nguyễn Thị Bích Ng yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết tại trụ sở Công ty TNHH V có địa chỉ tại khu công nghiệp T, thành phố V, tỉnh P (nay là phường Nông Trang, tỉnh P). Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- P là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt tất cả các đương sự.
. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH V và chị Nguyễn Thị Bích Ng (do chị Nguyễn Thị T mượn hồ sơ) vào tháng 4/2007 là vô hiệu thấy rằng: Chị Nguyễn Thị T sử dụng hồ sơ của chị Nguyễn Thị Bích Ng để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH V là có sự lừa dối do người lao động ký kết hợp đồng không đúng chủ thể, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị Bích Ng dẫn đến vi phạm quy định của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của chị Nguyễn Thị Bích Ng là có căn cứ được chấp nhận.
Thời gian Công ty TNHH V đóng bảo hiểm xã hội cho chị Nguyễn Thị T (mượn tên chị Nguyễn Thị Bích Ng) tại số sổ bảo hiểm 8207013528 từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 thì cũng trong khoảng thời gian này chị Nguyễn Thị Bích Ng đang làm việc tại Công Ty TNHH Kee Eun - Việt Nam và được Công Ty TNHH Kee Eun - Việt Nam đóng bảo hiểm xã hội tại số sổ 8207003623 nên đã dẫn đến có thời gian đóng trùng hai sổ bảo hiểm xã hội đều mang tên Nguyễn Thị Bích Ng. Do Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH V và chị Nguyễn Thị Bích Ng (thực tế do chị Nguyễn Thị T ký) là vô hiệu, vì vậy phải giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu nên cần thoái thu toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 của số sổ bảo hiểm 8207013528 là đúng và số tiền thoái thu này theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội tỉnh P nay là Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII là 4.869.906đ (Bốn triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm linh sáu đồng) được trả lại cho người lao động thực tế là chị Nguyễn Thị T là phù hợp.
. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Bích Ng phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, 371, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15, 16, điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50; Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bích Ng. Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH V với chị Nguyễn Thị Bích Ng tháng 4/2007 (do chị Nguyễn Thị T mượn hồ sơ) là vô hiệu toàn bộ.
2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ: Yêu cầu Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII thoái thu thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 4/2007 đến tháng 9/2009 tại sổ bảo hiểm xã hội số 8207013528 cấp tại Công ty TNHH V. Số tiền thoái thu theo sự tính toán của Bảo hiểm xã hội khu vực XVIII là 4.869.906đ (Bốn triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm linh sáu đồng) trả lại cho chị Nguyễn Thị T.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bích Ng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị Bích Ng đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0003725 ngày 23/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - P).
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - P có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh P; - VKSND khu vực 1 - P; - THADS tỉnh P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đào Thị H |