vanban.org

Bản án 96/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q phạm tội “Gây ô nhiễm môi trường”.

Xử phạt bị cáo Bùi Đức B 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức B và đồng phạm gây ô nhiễm môi trường - phạm tội gây ô nhiễm môi trường (điều 235 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q phạm tội “Gây ô nhiễm môi trường”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 235 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HS-ST
Ngày: 30-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đường Ngọc Đại

2. Ông Nguyễn Xuân Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Thư ký chính và bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký viên, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 71/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bùi Đức B, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1988 tại Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M (đã chết) và bà Bùi Thị L; có vợ là Đinh Thị T và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại, “có mặt”.

2. Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1984 tại Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố số A - X, phường X, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Giám đốc; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B1 và bà Trần Thị Thu H; có vợ là Dương Thị Quỳnh O và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/7/2011 bị Công an phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Ngày 24/4/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 06 năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 31/8/2015); bị cáo tại ngoại, “có mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty H4; địa chỉ: Tổ dân phố X, phường P, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện hợp pháp: Bà Triệu Thị Ngọc T1 - Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 132/102Ki/UQ-HVN ngày 01/8/2025), “có mặt”.

2. Công ty TNHH T4 (S); địa chỉ: Khu Đ, đường M, khu đô thị Đ, phường P, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Hữu V - Giám đốc Công ty; sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.

3. Công ty TNHH Đ. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng Q - Giám đốc Công ty, “có mặt”.

4. Công ty TNHH H5; địa chỉ: C, khu đô thị V, phường V, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tuấn D, sinh năm 1971; chức vụ: Giám đốc, “vắng mặt”.

5. Ông Tạ Văn C; Sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ dân phố Xuân Hòa I, phường X, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.

6. Anh Vũ Ngọc H1; sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường X, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.

7. Ông Hoàng Văn H2; sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường X, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Đức B là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 (Viết tắt là Công ty S) từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 8 năm 2023. Cuối năm 2021, Bùi Đức B biết thông tin Công ty H4 (viết tắt là Công ty H6) đang lựa chọn đơn vị có chức năng vận chuyển, xử lý chất thải thông thường (trong đó có cát đúc thải). Vì B muốn được nhận hợp đồng đó nhưng biết Công ty S không có chức năng, năng lực xử lý chất thải nên ngày 12/01/2022, B đại diện Công ty S ký Hợp đồng nguyên tắc hợp tác kinh doanh số: 12012022/HĐHTKD/BN-SUDEIN với Công ty Cổ phần P (viết tắt là Công ty P) ở xã P, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, B sử dụng hợp đồng này đưa vào hồ sơ năng lực của Công ty S để tham gia dự thầu. Do Công ty P là đơn vị có chức năng, năng lực xử lý chất thải công nghiệp theo quy định của pháp luật nên công ty S được Công ty H6 lựa chọn thuê vận chuyển, xử lý chất thải thông thường (trong đó có cát đúc thải). Theo đó, ngày 01/10/2022, và ngày 31/3/2023, B đại diện Công ty S ký kết lần lượt 02 Hợp đồng dịch vụ số: 99KI-PUR.PUR PLS-0946 và 99KI-PUR.PUR PLS-2229 với Công ty H6.

Tuy nhiên, sau đó B không thực hiện chuyển giao chất thải thông thường cho Công ty P xử lý theo hợp đồng nguyên tắc đã ký trước đó (Vì giá thành của B cao) mà chuyển giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ (viết tắt là Công ty Đ) do Nguyễn Hồng Q làm Giám đốc. Theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 2500687313 ngày 11 tháng 8 năm 2022, Công ty Đ không có chức năng, năng lực xử lý chất thải theo quy định của pháp luật. Công ty S và công ty Đ đã ký các hợp đồng cụ thể như sau: Hợp đồng dịch vụ số 269/HĐDV/2022 ngày 26/9/2022 và Hợp đồng nguyên tắc số 01/2023/TC-SUDEIN ngày 02/5/2023. Để giảm chi phí, tăng lợi nhuận, B và Q đã bàn bạc, thống nhất: Góp chung tiền mua xe ô tô tải BKS 36C - 116.06 để vận chuyển cát đúc thải từ Công ty H6 về tập kết tại thửa đất nông nghiệp số 134, tờ bản đồ số 40, phường X, tỉnh Phú Thọ phía sau Công ty Đ để làm bãi tập kết chất thải, khi nào tìm được đơn vị xử lý với giá thành rẻ hơn Công ty P thì sẽ thuê xử lý sau; lợi nhuận thu được B và Q chia nhau mỗi người một nửa.

Sau đó, Q chỉ đạo nhân viên Công ty Đ là Tạ Văn C, Đoàn Văn T2 vào Công ty H6 thực hiện nhiệm vụ xác nhận khối lượng cát đúc thải, ký vào phiếu xuất hàng và Vũ Ngọc H1 điều khiển xe ô tô tải BKS: 36C - 116.06 vào Công ty H6 để vận chuyển cát đúc thải về tập kết tại thửa đất phía sau Công ty Đ. Để phục vụ việc múc, san gạt cát đúc thải, Q đã ký kết hợp đồng thuê 01 máy đào bánh xích, nhãn hiệu: VOLVO, mã kiểu loại: EC60C; màu sơn: Vàng, số máy: VCEEC60CA00110824, số động cơ: 23641 của ông Hoàng Văn H2. Từ ngày 01/10/2022 đến tháng 08/2023, Công ty Đ đã vận chuyển được tổng khối lượng là 2.074.890 kg về tập kết tại thửa đất nông nghiệp phía sau Công ty Đ. Đối với khối lượng cát đúc thải này, Công ty H6 đã thanh toán cho Công ty S tổng số tiền là 3.053.376.529 đồng (bao gồm cả tiền thuế GTGT).

Đến tháng 07/2023, Công ty H6 yêu cầu B cung cấp thêm hợp đồng của đơn vị khác có chức năng, năng lực xử lý chất thải công nghiệp. Ngày 17/7/2023, B đại diện Công ty S ký Thỏa thuận Liên danh với Công ty Cổ phần X (viết tắt là Công ty X) để cung cấp cho Công ty H6. Đến cuối tháng 08/2023, do gặp khó khăn về kinh tế nên B đã chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của Công ty S cho Nguyễn Thành H3. Tuy nhiên, khi bàn giao công việc, B không bàn giao cho H3 công việc liên quan đến các hợp đồng đang thực hiện với Công ty H6 và Công ty Đ, B chỉ cho H3 biết Công ty S đang thuê Công ty Đ vận chuyển, xử lý chất thải của Công ty HVN theo đúng quy định pháp luật và đề nghị H3 cho B được tiếp tục thực hiện hợp đồng này để có tiền chi trả nợ nần. Thời điểm này, do H3 đang phải giải quyết nhiều công việc phát sinh tại công ty, thấy B đang gặp khó khăn về kinh tế và được B cho biết đang thực hiện hợp đồng theo đúng quy định pháp luật nên H3 đồng ý để B tiếp tục thực hiện hợp đồng này. Ngày 28/9/2023, B nhờ H3 ký Hợp đồng số 100KI-PUR.PUR PLS-0853 với Công ty H6. Ngày 13/11/2023, B nhờ H3 ký Hợp đồng số 252/BTS-VT với Công ty X để cung cấp cho Công ty H6.

Đến khoảng tháng 09/2023, do thửa đất phía sau Công ty Đ chứa đầy cát đúc thải nên Q đã liên hệ với Tạ Văn C (đang ở trong thành phố Hồ Chí Minh) hỏi mượn thửa đất nông nghiệp số 223, tờ bản đồ số 42, thôn X, phường X, tỉnh Phú Thọ để làm nơi tập kết, C đồng ý. Từ tháng 09/2023 đến ngày 13/3/2024, Công ty Đ tiếp nhận 1.175.740 kg cát đúc thải từ Công ty H6, Q chỉ đạo Vũ Ngọc H1 chở cát đúc thải về tập kết tại thửa đất của Tạ Văn C. Đối với khối lượng cát đúc thải này, Công ty H6 đã thanh toán cho Công ty S tổng số tiền là 1.237.002.246 đồng (bao gồm cả tiền thuế GTGT). Số tiền này, B chưa nhờ H1 chuyển cho Công ty Đ nên H1 đã sử dụng vào hoạt động kinh doanh của Công ty S.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/3/2024 tổ công tác Phòng 2, Cục C1 về môi trường – Bộ C2 phối hợp với công an xã C, Công an thành phố P, Phòng PC03 Công an tỉnh V tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42, khu Đồng bờ Hội, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là TDP X, phường X, tỉnh Phú Thọ) của Tạ Văn C phát hiện có chứa các chất nghi là chất thải đã được đổ cao khoảng 3m, khu vực đổ, thải không được che phủ bề mặt và lót đáy. Trên khu đất hiện có 01 máy xúc nhãn hiệu Vovol màu vàng; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu TMT, BKS: 36C – 11606, tải trọng 13100kg, màu sơn xanh đang đổ chất thải nghi là chất thải (dạng khuôn đúc bằng cát) từ trên xe xuống khu đất. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ các vật chứng có liên quan.

Khám nghiệm hiện trường nơi diễn ra hành vi đổ thải, ghi nhận: Khu vực đổ thải cao khoảng 3m, không được che phủ bề mặt và lót đáy trên thửa đất số 134, tờ bản đồ số 40 và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42 thuộc phường X, tỉnh Phú Thọ. Thời điểm kiểm tra có 01 máy xúc nhãn hiệu vovol màu vàng; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu TMT, BKS: 36C – 11606, tải trọng 13.100kg, màu sơn xanh thùng xe ở tình trạng nâng lên, đang thực hiện hành vi đổ chất thải rắn (dạng khuôn đúc bằng cát) từ trên xe xuống khu đất. Cơ quan điều tra đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành cân đo khối lượng của chất thải và thu giữ, niêm phong 02 mẫu chất rắn tại 02 thửa đất nêu trên (ký hiệu A1, A2). Ngày 08/8/2024 và 10/8/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố P cùng với Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, chính quyền địa phương và những người có liên quan tiến hành cân khối lượng thực tế toàn bộ số cát đúc thải được đổ tại 02 thửa đất nêu trên, kết quả: Tổng khối lượng cát đúc thải được đổ tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 40 và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42 nêu trên là: 1.031.875kg.

Trưng cầu giám định, kết quả trưng cầu giám định và công văn có liên quan:

Ngày 19/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố P ra Quyết định trưng cầu giám định V1 - Bộ C2 giám định hóa học đối với mẫu chất thải (cát đúc thải) được niêm phong ký hiệu A1, A2 thu tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42 và thửa đất số 134, tờ bản đồ số 40. Ngày 01/7/2024, V1 - Bộ C2 có Kết luận giám định số 4653/KL-KTHS, kết luận: Các chất thải ký hiệu A1, A2 gửi giám định có giá trị các thành phần nguy hại đặc trưng so với ngưỡng chất thải nguy hại tại Bản G, Bản G, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại (QCVN 07:2009/BTNMT). Ngoài ra đều không tìm thấy các thành phần nguy hại hữu cơ khác được quy định tại Bảng 3, QCVN 07:2009/BTNMT. Do đó, các chất thải ký hiệu A1, A2 gửi giám định đều không phải là chất thải nguy hại. Căn cứ Khoản 10, Điều 3, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các mẫu chất thải trên đều là chất thải rắn thông thường.

Ngày 10/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố P có Văn bản đề nghị V2 thuộc V3 xác định khu vực đất xung quanh thửa đất số 223, tờ bản đồ 42 và thửa số 134, tờ bản đồ số 40 có bị ô nhiễm môi trường không và mức độ ô nhiễm môi trường (nếu có). Ngày 31/7/2024, V2 thuộc V3 có Kết luận giám định số: 474/KLGĐ, kết luận: “Khu vực đất xung quanh 02 vị trí (thửa số 223, tờ bản đồ 42 và thửa số 134, tờ bản đồ 40) Công ty TNHH Đ đã đổ thải (cát đúc thải), tại cả hai thôn các mẫu đất được lấy từ Mẫu đất lấy tại vị trí số 01 đến Mẫu đất lấy tại vị trí số 06, các thông số phân tích đều không vượt ngưỡng QCVN 03:2023/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng đất và được xác định là đất không bị ô nhiễm bởi các tiêu chí phân tích.”

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các tài sản liên quan đến vụ án và xử lý theo quy định, cụ thể:

- Đối với 1.031.875kg chất thải còn lại, Cơ quan điều tra công an tỉnh P và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ đã tiến hành bàn giao vật chứng cho công ty H6 để xử lý theo Quyết định trả hồ sơ của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ. Toàn bộ chi phí để xử lý vật chứng do hai bị cáo tự nguyện nộp.

- Thu giữ xe ô tô tải biển kiểm soát 36C - 116.06; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; Giấy chứng nhận kiểm định số 5714625 cấp ngày 29/9/2023; 01 Máy đào bánh xích nhãn hiệu VOLVO, mã kiểu loại EC60C, màu: Vàng, số khung VCEE60CA00110824, số động cơ 23641; số tiền 1.257.592.246 đồng, trong đó 1.237.002.246 đồng do người đại diện theo pháp luật của công ty S tự nguyện giao nộp và 20.590.000 đồng do người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH H5 tự nguyện giao nộp.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSKV8 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q về tội “Gây ô nhiễm môi trường” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 235; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Đức B 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 235; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 4 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt bổ sung các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.257.592.246 đồng và chiếc xe ô tô tải BKS 36C - 116.06 cùng các giấy tờ liên quan đến xe do dùng vào việc phạm tội và liên quan đến việc phạm tội.

- Trả lại ông Hoàng Văn H2 01 Máy đào bánh xích nhãn hiệu VOLVO.

- Truy thu để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Hồng Q và Bùi Đức B tổng số tiền 3.053.376.529 đồng, kỉ phần mỗi bị cáo phải chịu 50% số tiền trên là tiền do phạm tội mà có. Xác nhận mỗi bị cáo đã nộp 50.000.000 đồng để khắc phục hậu quả tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Phú Thọ.

Đại diện hợp pháp của Công ty H4 trình bày: Hoàn toàn nhất trí với Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo. Trong thời gian Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung thì toàn bộ khối lượng chất thải còn lại tại hiện trường đã được Công ty xử lý tiêu hủy theo đúng quy định của pháp luật. Toàn bộ chi phí để xử lý vật chứng của vụ án là do bị cáo B và bị cáo Q nộp nên Công ty có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp. Do các bị cáo đã tự nguyện phối hợp với chủ nguồn thải là Công ty H7 để xử lý toàn bộ khối lượng chất thải rắn công nghiệp (Cát đúc thải) lưu giữ tại các thửa đất số 134, tờ bản đồ số 40 và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42 thuộc khu Đ, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là phường X, tỉnh Phú Thọ) nên Hội đồng xét xử xác định UBND phường X không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không triệu tập tham gia phiên tòa.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khuc vực 8 - Phú Thọ truy tố. Các bị cáo khai nhận Bùi Đức B là giám đốc và là đại diện theo pháp luật của công ty TNHH T4 (S) từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 8 năm 2023 còn Nguyễn Hồng Q là giám đốc và là đại diện theo pháp luật của công ty TNHH Đ. Cả hai Công ty đều không có chức năng xử lý chất thải công nghiệp (Cát đúc thải) nhưng các bị cáo nhân danh Công ty ký hợp đồng với nhau để vận chuyển, thu gom, xử lý chất thải rắn thông thường (Cát đúc thải) cho công ty H4. Theo đó, từ ngày 01/10/2022 đến 13/3/2024, Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q đã bàn bạc, thỏa thuận và chỉ đạo nhân viên Công ty dùng xe ô tô tải biển kiểm soát 36C - 116.06 và máy đào bánh xích nhãn hiệu VOLVO để thực hiện việc vận chuyển, đổ chất thải (cát đúc thải) của công ty H4 ra môi trường trái pháp luật (địa điểm đổ không thuộc khu vực quy hoạch quản lý chất thải công nghiệp thông thường) với tổng khối lượng là 3.250.630 kg. Địa điểm các bị cáo đổ chất rác thải tại khu vực đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 134, tờ bản đồ số 40 và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42 thuộc phường X, tỉnh Phú Thọ.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các Kết luận giám định; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q đã phạm vào tội “Gây ô nhiễm môi trường”.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội từ ngày 01/10/2022 đến 13/3/2024 nhưng bị truy tố, xét xử vào thời điểm mà Luật số 86/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự đã có hiệu lực thi hành. So sánh tội “Gây ô nhiễm môi trường” quy định tại Điều 235 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Gây ô nhiễm môi trường” quy định tại Điều 235 của Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2025 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 có hình phạt nhẹ hơn. Căn cứ hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự thì điều luật được áp dụng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q về tội “Gây ô nhiễm môi trường” theo quy định tại Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật. Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q đã đổ chất thải rắn thông thường ra môi trường trái pháp luật tổng số 3.250.630 kg nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung quy định tại điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý và bảo vệ môi trường của Nhà nước. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng: Cả hai bị cáo đều được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục xong việc xử lý chất thải theo quy định của pháp luật và trong giai đoạn điều tra mỗi bị cáo đã tự nguyện nộp 50 triệu đồng trong tổng số tiền 3.053.376.529 đồng là tiền do phạm tội mà có. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hồng Q còn được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 đó là tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án được cơ quan điều tra xác nhận và trước khi phạm tội bị cáo nhiều lần tham gia hoạt động từ thiện đóng góp cho xã hội. Bị cáo Bùi Đức B còn được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 đó là bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Văn M là Bệnh binh, được Nhà nước trao tặng nhiều Huân chương và là lao động chính trong gia đình.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; bị cáo Nguyễn Hồng Q tuy có nhân thân không tốt, do đã từng bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được xóa từ lâu và hành vi vi phạm trước đó không trùng với tội bị xét xử lần này; bị cáo Bùi Đức B có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đều có nơi cư trú rõ ràng; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phải chịu tình tiết tăng nặng, kết luận giám định xác định khu vực đất các bị cáo dùng để chứa chất thải không bị ô nhiễm nên hành vi phạm tội đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và lao động để chăm lo cho gia đình.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được các bị cáo có tài sản và thu nhập nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát.

Đối với Công ty S hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, các thành viên khác tham gia góp vốn trong Công ty S không liên quan đến hành vi phạm tội của Bùi Đức B nên Cơ quan điều tra đề cập xử lý pháp nhân và các cá nhân góp vốn khác là phù hợp.

Ngoài hành vi phạm tội đã bị xét xử thì Bùi Đức B còn có hành vi sử dụng trái phép 01 hóa đơn GTGT số 13 ngày 30/9/2023 của Công ty Đ ghi khống hàng hóa, dịch vụ với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ chưa có thuế là 2.188.932.094 đồng, tiền thuế GTGT 175.114.568 đồng để hợp thức hàng hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn, chứng từ và kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Tuy nhiên, Công ty S đã tự kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT được khấu trừ 141.664.718 đồng (còn lại số tiền thuế GTGT là 33.449.850 đồng chưa được kê khai, điều chỉnh giảm) đối với hóa đơn GTGT nêu trên trước khi Cơ quan điều tra phát hiện, thu thập hồ sơ, tài liệu tại Cơ quan thuế. Căn cứ vào Kết luận giám định của Chi cục thuế khu vực V4, kết luận: Công ty S trốn nộp thuế GTGT số tiền 33.449.850 đồng, chưa đủ cơ sở xác định thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Do vậy, hành vi của Bùi Đức B không cấu thành tội “Trốn thuế” mà vi phạm hành chính về hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn. Cơ quan điều tra có văn bản chuyển Thuế tỉnh P đề nghị truy thu số tiền thuế trốn và xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật là có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét.

Quá trình điều tra xác định khi là giám đốc Công ty T5 thì Q có hành vi sử dụng trái phép 01 hóa đơn với tiền thuế GTGT 164.725.408 đồng. Tuy nhiên, Công ty Đ đã tự kê khai điều chỉnh giảm toàn bộ số tiền thuế GTGT không đủ điều kiện khấu trừ 164.725.408 đồng. Căn cứ vào Kết luận giám định của Chi cục thuế khu vực V4, kết luận: Công ty Đ không gây thiệt hại về thuế GTGT đối với ngân sách nhà nước; chưa đủ cơ sở xác định thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Do vậy, hành vi của Nguyễn Hồng Q và công ty Đ không cấu thành tội “Trốn thuế” mà vi phạm hành chính về hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn. Theo đó, ngày 03/11/2025 Thuế tỉnh P phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thuế đối với công ty Đ số tiền là 70.000.000 đồng. Ngày 22/11/2025 công ty Đ đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu số 9254806 của T tỉnh Phú Thọ nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Phạm Tuấn D - Giám đốc Công ty H5 biết rõ việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT là vi phạm pháp luật nhưng D đã bán trái phép 01 số hóa đơn GTGT của Công ty H5 cho công ty Đ và thu lời bất chính số tiền là 20.590.000 đồng. Tuy nhiên hành vi của D không cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn” mà vi phạm hành chính về hành bán trái phép hóa đơn. Quá trình điều tra, D đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền thu được từ việc bán trái phép hóa đơn nêu trên. Ngày 03/11/2025 Thuế tỉnh P phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thuế đối với công ty H5 số tiền là 35.000.000 đồng. Ngày 10/9/2025 công ty H5 đã nộp đủ số tiền trên theo Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước số 0049170 nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Công ty H6 là đơn vị phát sinh chất thải rắn thông thường (cát đúc thải) trong quá trình sản xuất. Theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường thì Công ty H6 phải chuyển giao chất thải rắn thông thường cho đơn vị có chức năng, năng lực xử lý, được quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020 của Quốc hội. Tuy nhiên, Công ty H6 đã chuyển giao chất thải rắn thông thường (cát đúc thải) cho Công ty S là đơn vị không có chức năng, năng lực xử lý. Hành vi của Công ty H6 đã vi phạm hành chính về hành vi: “Chuyển giao chất thải rắn thông thường cho đơn vị không có chức năng, năng lực xử lý theo quy định từ 100.000kg trở lên”, quy định tại điểm n khoản 8 Điều 26 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Ngày 05/9/2025 Phòng C3 Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 34/QĐ-XPHC-CSKT phạt Công ty H4 số tiền 450.000.000 đồng. Ngày 10/9/2025 Công ty H4 đã nộp theo biên lai số 0009246 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C4 chi nhánh P1 Phòng G là đúng quy định.

Đối với Nguyễn Thành H3 - Giám đốc Công ty S (từ ngày 05/9/2024 đến ngày 13/3/2024) là người được Bùi Đức B nhờ ký Hợp đồng số: 100KI-PUR.PUR PLS-0853 ngày 28/9/2023 với Công ty H6, ký Hợp đồng số 252/BTS-VT ngày 13/11/2023 với Công ty X và chuyển số tiền 2.364.046.662 đồng từ tài khoản của Công ty S đến tài khoản của Công ty Đ. Tuy nhiên, H3 không tham gia vào việc vận chuyển, xử lý chất thải của Công ty H6; không biết việc B với Nguyễn Hồng Q đổ thải trái phép ra môi trường và không được hưởng quyền, lợi ích gì. Do vậy, không xem xét, xử lý đối với Nguyễn Thành H3 là phù hợp.

Đối với Vũ Ngọc H1, Trần Thanh B2, Đoàn Văn T2 - Là lái xe và nhân viên của Công ty Đ: anh H1, anh B2 và anh T2 chỉ là người tiếp nhận khối lượng phế thải và lái xe của Công ty Đ, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, chỉ đạo của Nguyễn Hồng Q, được công ty trả lương cố định theo tháng, không được Q bàn bạc, trao đổi về mục đích và phân chia lợi nhuận liên quan đến việc vận chuyển cát đúc thải từ Công ty H6 về đổ tại 02 thửa đất nêu trên nên không xem xét, xử lý đối với Vũ Ngọc H1, Trần Thanh B2, Đoàn Văn T2 là phù hợp.

Đối với ông Tạ Văn C - Chủ thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42 và là nhân viên Công ty Đ, C tiếp nhận khối lượng phế thải theo sự phân công, chỉ đạo của Nguyễn Hồng Q và cho Q mượn thửa đất này. Tuy nhiên, ông C không biết mục đích Q mượn thửa đất để đổ chất thải rắn thông thường (cát đúc thải), không được Q bàn bạc, thống nhất về mục đích và không được hưởng quyền hay lợi ích gì từ việc đổ thải trái phép tại thửa đất của mình nên không xem xét, xử lý đối với Tạ Văn C là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Thị T3 - là người chuyển nhượng cho Nguyễn Hồng Q thửa đất nông nghiệp số 134, tờ bản đồ số 40 ở phường X, tỉnh Phú Thọ, không biết, không liên quan và không hưởng lợi gì tử việc đổ thải trái phép của Q và B2 nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với khối lượng chất thải rắn thông thường lưu tại các thửa đất số 134, tờ bản đồ số 40 và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 42 thuộc phường X, tỉnh Phú Thọ, đã được xử lý tiêu hủy theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với chiếc xe ô tô tải BKS 36C - 116.06 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hồng Q được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc máy đào bánh xích là tài sản do bị cáo Q thuê của ông Hoàng Văn H2 và ông H2 không biết Q đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

- Đối với số tiền 1.237.002.246 đồng do ông Nguyễn Thành H3, Giám đốc Công ty S tự nguyện giao nộp: Quá trình điều tra xác định số tiền này liên quan đến hành vi phạm tội của Q và B2 nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền 20.590.000 đồng là tiền do Phạm Tuấn D thu lợi được từ hành vi bán trái phép hóa đơn nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 3.053.376.529 đồng là tiền mà bị cáo B2 và Q phạm tội mà có nên cần truy thu để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo B2 và Q tự nguyện thỏa thuận mỗi bị cáo phải nộp 50% của số tiền thu lời bất chính. Theo đó, truy thu để tịch thu của Nguyễn Hồng Q và của Bùi Đức B mỗi bị cáo số tiền 1.526.688.264,5 đồng. Xác nhận mỗi bị cáo đã nộp 50.000.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q phạm tội “Gây ô nhiễm môi trường”.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 235; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bùi Đức B 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 235; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015. Phạt các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q mỗi bị cáo phải nộp 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Bùi Đức B cho Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Phú Thọ và giao bị cáo Nguyễn Hồng Q cho Ủy ban nhân dân phường X, tỉnh Phú Thọ quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước của Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q, mỗi bị cáo số tiền 1.526.688.264,5 đồng (Một tỷ năm trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn, hai trăm sáu mươi bốn phảy năm đồng) do phạm tội mà có. Xác nhận bị cáo Q và bị cáo B mỗi bị cáo đã nộp được 50.000.000 đồng theo các biên lai thu tiền số 0001687 và 0001688 cùng ngày 26/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.257.592.246 đồng (Một tỷ hai trăm năm mươi bảy triệu năm trăm chín mươi hai nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng) do Nguyễn Thành H3 và Phạm Tuấn D tự nguyện giao nộp tại cơ quan điều tra. Số tiền này đã được chuyển vào tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo giấy ủy nhiệm chi số 34 ngày 25/9/2025.

Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe ô tô tải BKS: 36C - 116.06 cùng giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 011505 do Phòng C5 Công an tỉnh T cấp ngày 29/5/2015 và Giấy chứng nhận kiểm định số: 5714625 của xe ô tô BKS: 36C - 116.06, cấp ngày 29/9/2023.

Trả lại ông Hoàng Văn H2 01 máy đào bánh xích nhãn hiệu VOLVO, mã kiểu loại EC60C, màu: Vàng, số khung VCEE60CA00110824, số động cơ 23641, năm sản xuất 2011.

Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2025 của Công an tỉnh P với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Phú Thọ.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Bùi Đức B và Nguyễn Hồng Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ