vanban.org

Bản án 83/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C.

Buộc ông Lê Minh H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bà C tổng số tiền 12.067.503 đồng (mười hai triệu, không trăm sáu mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự; Điều 13 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 83/2020/DS-ST
Ngày: 09-6-2020
V/v Tranh chấp bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường

- Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Sơn Hùng

Bà Hồ Thị Hồng Phướng

- Thư ký phiên tòa : Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2020/TLST-DS, ngày 06 tháng 01 năm 2020 về việc Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2020/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1990, nơi cư trú: số 371, tổ 13, ấp BX, xã TMT, huyện CP, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Lê Minh H (Vinh), sinh năm 1988, nơi cư trú: tổ 13, ấp BX, xã TMT, huyện CP, tỉnh An Giang.

Tất cả đương sự có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 11 năm 2019 và lời khai của nguyên đơn bà Trần Thị C trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Vào ngày 21/8/2019, bà và con bà là cháu Phan Quốc T, sinh năm 2008 bị ông Lê Minh H đánh phải đi khám tại Bệnh viện Hạnh phúc sau đó bà chuyển viện sang Bệnh viện Đa khoa TT An Giang nhập viện từ ngày 22/8/2019 đến ngày 27/8/2019 thì xuất viện. Sau khi xuất viện bà có trở lại tái khám đến lần thứ 3 thì bác sĩ kêu bà đi thành phố khám lại cho chính xác nên đến ngày 30/8/2019 bà đến bệnh viện Răng hàm mặt thành phố Hồ Chí Minh khám. Đối với cháu T do chỉ bị thương tích nhẹ nên chỉ uống thuốc mà không tái khám.

Bà bị ông H đánh mắt trái với tỷ lệ tổn thương là 05%. Ngoài ra cháu T cũng bị ông H đánh bị thương nên bà yêu cầu như sau:

- Tiền thuốc điều trị: 5.687.503 đồng;

- Tiền xe đi khám bệnh: 2.800.000 đồng;

- Tiền mất thu nhập lao động: 3.150.000 đồng;

- Tiền tái khám ngày 05/11/2019: 933.245 đồng;

- Tiền tái khám ngày 12/11/2019: 609.541 đồng;

- Tổn thất tinh thần, bồi thường danh dự nhân phẩm: 20.000.000đồng.

Tổng cộng số tiền: 33.180.289 đồng.

Nghề nghiệp của bà là chăn nuôi bò, may quần áo và nuôi bò thuê cho mẹ, cộng các khoảng thu nhập bình quân mỗi ngày là 150.000 đồng. Đối với khoản tiền xe đi khám bệnh do bà đi bằng xe đò nên không có chứng từ.

- Bị đơn ông Lê Minh H trình bày:

Ông thừa nhận có đánh bà C và cháu T. Nhưng ông chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc điều trị của bà C và cháu T là: 5.687.503 đồng. Các khoản còn lại ông không đồng ý bồi thường. Lý do là vì ông thấy việc ông đánh bà C và cháu Hoàng thương tích không lớn đến mức phải đi khám và điều trị nhiều nơi.

- Tại phiên tòa:

Nguyên đơn trình bày xác định yêu cầu khởi kiện:

+ Tiền thuốc 5.687.503 đồng (năm triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng) là tiền khám và tiền thuốc vào các ngày 21/8/2019 tại trung tâm y tế huyện Châu Phú; ngày 22/8/2019 Bệnh viện Hạnh Phúc, bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang; ngày 30/8/2019 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Tp.Hồ Chí Minh; ngày 4/9/2019, ngày 10/9/2019 bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh An Giang.

+ Tiền xe đi khám bệnh: thay đổi, xác định số tiền yêu cầu là 1.480.000 đồng (một triệu, bốn trăm tám mươi ngàn đồng)

+ Tiền mất thu nhập lao động: 3.150.000đồng là 21 ngày (ngày 21/8/2019 – 10/9/2019) x 150.000 đồng/ngày.

+ Tiền tái khám ngày 05/11/2019 và ngày 12/11/2019 tại Công ty TNHH bệnh viện đa khoa Nhật Tân: 1.542.786 đồng (một triệu, năm trăm bốn mươi hai ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng)

+ Yêu cầu tổn thất tinh thần không yêu cầu bồi thường về danh dự nhân phẩm số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

Bị đơn trình bày: đồng ý bồi thường thiệt hại đối với tiền thuốc 5.687.503 đồng (năm triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng) và tiền xe 1.480.000 đồng (một triệu, bốn trăm tám mươi ngàn đồng), riêng tiền mất thu nhập lao động và tổn thất tinh thần yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật. Không đồng ý bồi thường tiền tái khám ngày 05/11/2019, ngày 12/11/2019 tại Công ty TNHH bệnh viện đa khoa Nhật Tân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận sự thỏa thuận về bồi thường tiền thuốc 5.687.503 đồng (năm triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng) và tiền xe 1.480.000 đồng (một triệu bốn trăm tám mươi ngàn đồng). Về mất thu nhập lao động chấp nhận những ngày nằm viện, ngày tái khám theo chỉ định bác sĩ và nghỉ dưỡng sức 07 ngày từ ngày xuất viện với mức 120.000 đồng/ngày. Về tổn thất tinh thần chấp nhận 02 tháng lương cơ sở do nhà nước quy định. Đối với 02 lần tái khám tại Công ty TNHH bệnh viện đa khoa Nhật Tân (ngày 05/11/2019, ngày 12/1/12019) không chấp nhận do không theo chỉ định bác sĩ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị C khởi kiện về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đối với ông Lê Minh H cư trú tại huyện Châu Phú và sự việc gây thương tích xảy ra tại địa bàn huyện Châu Phú nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về tư cách tham gia tố tụng: Bà Trần Thị C khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà và cháu Phan Quốc T, sinh năm 2008. Hiện cháu T chưa đủ 18 tuổi, do đó căn cứ vào điều 20, điều 21, điều 136 Bộ luật dân sự thì bà C được quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường cho cháu T và không đưa cháu T vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Căn cứ vào Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm số 120 ngày 18/11/2019; Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự số 73 ngày 18/11/2019; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 74 ngày 18/11/2019 của Công an huyện Châu Phú; giấy chứng nhận thương tích số 331/2019 KHTH ngày 27/8/2019 của Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang, hình ảnh về thương tích của bà C; lời trình bày của bà C và lời thừa nhận của ông H, đã có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 21/8/2019, sau khi đi nhậu về nhà, ông H thấy cháu T đến nhà đòi tiền thì ông bị mẹ la chửi, bực tức nên ông đi tìm ông Phan Hoàng An (cha của cháu T) để nói chuyện nhưng không gặp ông An mà chỉ gặp bà C (vợ ông An). Giữa hai bên nảy sinh cự cãi và ông H dùng tay phải đánh trúng vào mắt trái của bà C, cháu T vào can ngăn thì cũng bị Hoàng làm trúng sưng vùng trán. Sự việc xảy ra, bà C phải nhập viện điều trị từ ngày 22/8/2019 đến ngày 27/8/2019 và cháu T cũng phải uống thuốc điều trị.

Theo thông báo kết luận giám định pháp y về tỷ lệ thương tích xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên đối với bà C là 05%. Ông H là người có đủ năng lực hành vi dân sự, hành vi của ông H đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bà C, cháu T, tuy nhiên do bà C không yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích và làm đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự đối với ông H, do đó vụ việc không khởi tố thành vụ án hình sự. Tuy nhiên qua sự việc, bản thân ông H cần nghiêm khắc kiểm điểm lại hành vi cư xử trong cuộc sống, điều chỉnh hành vi cho đúng với quy định pháp luật để không phải gánh chịu hậu quả pháp lý.

Căn cứ vào Điều 13, khoản 1 Điều 584, Điều 586 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của bà C đối với ông H về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ.

Về mức bồi thường thiệt hại:

Đối với các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà C nêu ra thì ông H đồng ý bồi thường số tiền thuốc 5.687.503đ (năm triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng) và tiền xe 1.480.000đồng (một triệu, bốn trăm tám mươi ngàn đồng). Xét thấy, theo khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 thì các bên có thể thỏa thuận với nhau về mức bồi thường thiệt hại như vậy sự tự nguyện bồi thường của ông H là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận theo đó ông H có nghĩa vụ bồi thường cho bà C số tiền thuốc 5.687.503đ (năm triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng) và tiền xe 1.480.000đồng (một triệu, bốn trăm tám mươi ngàn đồng).

Về các khoản yêu cầu bồi thường còn lại của bà C thì ông H không đồng ý, do đó Hội đồng xét xử sẽ căn cứ Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 để xem xét giải quyết:

- Đối với yêu cầu về tiền tái khám ngày 05/11/2019 và ngày 12/11/2019 tại Bệnh viện Nhật Tân số tiền: 933.245đ + 609.541đ = 1.542.786đ (Một triệu, năm trăm bốn mươi hai ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy, tuy bà C có cung cấp một số hóa đơn, chứng từ nhưng đối với 02 lần tái khám này là không có chỉ định của bác sĩ hay trung tâm y tế, việc tái khám là do bà tự ý thực hiện do đó bà không chứng minh được đây là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa. Vì vậy căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử không chấp nhận đối với yêu cầu bồi thường về 02 lần tái khám ngày 05/11/2019, ngày 12/11/2019 tại Công ty TNHH bệnh viện đa khoa Nhật Tân.

- Đối với yêu cầu về mất thu nhập lao động của bà C với số tiền: 3.150.000đ (ba triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng), bà C là lao động tự do không có hợp đồng hay chứng cứ chứng minh thu nhập. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương là 120.000đ (một trăm hai mươi ngàn đồng)/ngày (theo biên bản xác minh ngày 12/5/2020 tại UBND xã Thạnh Mỹ Tây) để xem xét bồi thường thiệt hại mất thu nhập lao động.

Bà C nằm viện từ ngày 22/8/2019 – 27/8/2019 và khám bệnh các ngày 21/8/2019, 30/8/2019, 04/9/2019, 10/9/2019, 05/11/2019, 12/11/2019; tuy nhiên ngày 05/11/2019 và ngày 12/11/2019 khám bệnh không theo chỉ định bác sĩ do đó không được tính vào ngày mất thu nhập để buộc ông H bồi thường. Theo đó, bà C nằm viện 06 ngày (22/8/2019 – 27/8/2019) và đối với thương tích của bà C thì Hội đồng xét xử xem xét cho bà C nghỉ dưỡng 07 ngày kể từ ngày xuất viện (28/8/2019 – 03/9/2019). Ngày khám bệnh 30/8/2019 đã được tính trong thời gian nghỉ dưỡng nên chỉ xem xét ngày 21/8/2019, ngày 04/9/2019, ngày 10/9/2019 vào ngày mất thu nhập lao động.

Như vậy, tổng cộng số ngày mất thu nhập lao động của bà C gồm: 06 ngày nằm viện (22/8/2019 – 27/8/2019) + 07 ngày nghỉ dưỡng (28/8/2019 – 03/9/2019) + ngày 21/8/2019 + ngày 04/9/2019 + ngày 10/9/2019 = 16 ngày.

Số tiền ông H phải bồi thường cho bà C về mất thu nhập lao động: 16 ngày x 120.000đ/ngày = 1.920.000đồng (một triệu chín trăm hai mươi ngàn đồng).

- Đối với tổn thất tinh thần mà bà C yêu cầu số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, hai bên không thỏa thuận được mức bồi thường về tổn thất tinh thần, nhưng xét thấy đến thời điểm hiện tại thương tích của bà C không gây ảnh hưởng về thẩm mỹ hay gây khó khăn trong công việc, lao động, sinh hoạt ngày hàng, hiện sức khỏe bà ổn định. Đồng thời ông H là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế không có. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 585, khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015, buộc ông H phải có nghĩa vụ bồi thường về tổn thất tinh thần cho bà C với mức 02 tháng lương cơ sở do nhà nước quy định (1.490.000đ (một triệu bốn trăm chín mươi ngàn đồng)/tháng), cụ thể số tiền 1.490.000 đồng/tháng x 02 tháng = 2.980.000 đồng (hai triệu, chín trăm tám mươi ngàn đồng).

Như vậy tổng số tiền ông H phải bồi thường thiệt hại cho bà C là: 5.678.503đ + 1.480.000đ + 1.920.000đ + 2.980.000đ = 12.067.503 đồng (mười hai triệu, không trăm sáu mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng)

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị C được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Lê Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện được chấp nhận theo khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ vào Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 134, Điều 136, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị C.

Buộc ông Lê Minh H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bà C tổng số tiền 12.067.503 đồng (mười hai triệu, không trăm sáu mươi bảy ngàn, năm trăm lẻ ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị C được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lê Minh H phải chịu 603.500 đồng (sáu trăm lẻ ba ngàn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.

Bà Trần Thị C, ông Lê Minh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ