vanban.org

Bản án 77/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 17/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo NSM phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo NSM 36 (ba mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2019. * Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo NSM phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2019/HS-ST
Ngày: 17- 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Huy.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lệ;

Ông Trần M Khang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sinh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại t sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2019/HSST, ngày 30 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

NSM, sinh năm 1980, tại Hà Nội; trú tại: thôn NC, xã AK, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Sỹ Hùng, sinh năm 1952 và con bà: Chu Thị Hải, sinh năm 1955; Vợ: Hoàng Thị Nhiên, sinh năm 1981; Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2019);

Tiền án, tiền sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 101/2015/HSST ngày 28/12/2015, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xử phạt NSM 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/01/2018, NSM chấp hành xong hình phạt.

Nhân thân: Năm 2010, Uỷ ban nhân dân huyện Hoài Đức ra Quyết định đưa người vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc.

Danh chỉ bản số 244 lập ngày 08/6/2019 tại Công an huyện Hoài Đức; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 1-Công an thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh BVA, sinh năm 1999;

HKTT: Xóm O, xã LS, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 06/6/2019, tổ tuần tra Đồn công an số 7 – Công an huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội đang tuần tra tại đường bê tông phía sau trường THPT Hoài Đức B phát hiện bắt quả tang NSM đang có hành vi bán 01 (một) gói nilon màu trắng, kích thước 2,5x2,5cm bên trong chứa 01 (một) gói giấy màu trắng có chứa chất bột màu trắng cho BVA với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và 200.000 đồng Văn Anh trả M do nợ từ trước. Khi thấy lực lượng Công an bắt quả tang M dùng tay phải ném túi nilon trên xuống rãnh (không có nước) cạnh vị trí M đứng khoảng 01m. Sau đó, M thừa nhận túi nilon trên bên trong có chứa ma túy Heroine M mang đi để bán cho Văn Anh thì lực lượng Công an huyện Hoài Đức bắt quả tang và thu giữ cùng số tang vật.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói nilon kích thước 2,5x2,5cm bên trong có chứa 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong chứa bột màu trắng (Thu giữ của NSM)

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh có số seri 353386046416919. (Thu giữ của NSM)

- 01(một) xe mô tô nhãn biển kiểm soát 29M1 – 462.87, số khung: RLHHC121XDY619928, số máy: HC12E-5620075 (xe đã qua sử dụng)(Thu giữ của NSM)

- Số tiền 400.000 đ (bốn trăm nghìn đồng) (Thu giữ của NSM)

- 01(một) điện thoại di động Nokia màu xanh số seri 352898102614089; 352898103614088. (Thu giữ của BVA)

Tại Kết luận giám định số 3687/KLGĐ-PC09 ngày 13/6/2019 kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bên ngoài bọc nilon là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,029 gam.

Đối với BVA quá trình điều tra xác định: Ngày 06/6/2019, Văn Anh mua ma túy của M với mục đích sử dụng cho bản thân nhưng M chưa đưa kịp đưa túi ma túy cho Văn Anh thì công an huyện Hoài Đức phát hiện bắt quả tang. Số ma túy Heroin thu giữ của NSM có khối lượng 0,029 gam, bản thân Văn Anh chưa bị xử lý hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy lần nào. Do vậy, không đủ cơ sở căn cứ để xử lý đối với Văn Anh.

Tại Cơ quan CSĐT – Công an huyện Hoài Đức, M khai nhận mua ma túy của một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, cao 1m65, da ngăm đen, tóc cắt bình thường tại khu vực đường tàu La Dương, Phường Dương Nội, quận Hà Đông, TP.Hà Nội. Qua xác minh tại Công an phường Dương Nội cho biết với những đặc điểm nêu trên thì Công an phường Dương Nội không xác định được đối tượng đó là ai nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen bạc có biển kiểm soát 29M1-462.87, số máy 562075, số khung 619928 bị thu giữ, M khai đã mượn của vợ là chị Hoàng Thị Nhiên (SN: 1981; HKTT: Thôn Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội). Chị Nhiên khai mua chiếc xe máy trên vào khoảng tháng 6 năm 2016, đăng ký mang tên Nguyễn Quang Tới (SN: 1976; HKTT: Cổ Điển A, Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP.Hà Nội). Quá trình xác minh anh Quang Tới khai đã bán chiếc xe máy cho chị Hoàng Thị Nhiên và việc M sử dụng chiếc xe máy trên để đi bán ma túy chị Hiên không biết. Tra cứu tàng thư vật chứng chiếc xe trên không phải là vật chứng của vụ án khác. Ngày 22/7/2019, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Hoài Đức ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Hoàng Thị Nhiên.

Tại cơ quan điều tra, NSM đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên; lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người liên quan, những người làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKSHĐ ngày 30/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố NSM về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo NSM từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị HĐXX Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

+ Tuyên tịch thu tiêu huỷ Đối với 01 (một) phong bì niêm phong được dán kín của CATP Hà Nội có khối lượng 0,029 gam ma túy loại heroine (Thu giữ của NSM) là vật cấm lưu hành.

+ Đối với: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh có số seri 353386046416919. (Thu giữ của NSM) và 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh số seri 352898102614089; 352898103614088. (Thu giữ của BVA) bị cáo và anh BVA sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước;

+ Đối với số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của NSM, trong đó có 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tiền bán ma túy, đây là số tiền do phạm tội mà có nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước; số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) còn lại là tiền BVA trả nợ bị cáo M, là số tiền hợp pháp của bị cáo M, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo M. Tuy nhiên cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 06/6/2019, NSM đi đến đoạn đường bê tông phía sau trường Phổ thông trung học Hoài Đức B thuộc thôn Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội để bán 01 (một) gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,029 gam với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho BVA. Khi Văn Anh đưa tiền cho M, M cầm tiền chuẩn bị đưa ma túy cho Văn Anh thì Công an huyện Hoài Đức phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật.

. Hành vi của bị cáo là hành vi mua bán bất hợp pháp chất ma tuý, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội; bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo NSM cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi mà tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma tuý là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo lên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 101/2015/HSST ngày 28/12/2015, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xử phạt NSM 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/1/2018, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Tính đến nay bị cáo chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm được quy định tại Điểm h khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Quá trình điều tra , truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo. Đây là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Căn cứ vào tính chất và mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo NSM có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy, năm 2010 bị cáo đã phải đi cai nghiện bắt buộc đến nay bị cáo vẫn tiếp tục nghiện ma túy. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, bị cáo lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là người không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, khó giáo dục, khó cải tạo nên bị cáo không có đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường mà cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn là phù hợp.

Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong được dán kín của CATP Hà Nội có khối lượng 0,029 gam ma túy loại heroine (Thu giữ của NSM) là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh có số seri 353386046416919. (Thu giữ của NSM) và 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh số seri 352898102614089; 352898103614088. (Thu giữ của BVA) bị cáo và anh BVA sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước;

- Đối với số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của NSM, trong đó có 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là tiền bán ma túy, đây là số tiền do phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước; số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) còn lại là tiền BVA trả nợ bị cáo M, là số tiền hợp pháp của bị cáo M, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo M. Tuy nhiên cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: bị cáo NSM phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo NSM 36 (ba mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2019.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong được dán kín của CATP Hà Nội có khối lượng 0,029 gam ma túy loại heroine. Mặt trước phòng bì ghi tên đối tượng NSM, năm sinh 1980, KHTT: Ngãi Cầu, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội. Tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên Nguyễn Hồng Quân, cán bộ Nguyễn Đức Quý, đối tượng NSM, BVA;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với vật chứng:

+ 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh có số seri 353386046416919;

+ 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh số seri 352898102614089; 352898103614088.

+ Số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo NSM số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo “Biên bản giao, nhận vật chứng” ngày 10 tháng 9 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức; Giấy nộp tiền tiền vào tài khoản ngày 01/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức và Kho bạc nhà nước huyện Hoài Đức).

* Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo NSM phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ