- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn B - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2025/HS-ST Ngày: 10/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Q;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Q và ông Phí Văn C.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh D - Thư ký Tòa án nhân dân quận B thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Trần Văn B, sinh năm 2002 tại N; nơi đăng ký thường trú: N1, xã N2, huyện N3, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và con bà Phạm Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt quả tang ngày 27/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Anh Đ, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ 1, phường Đ, quận B, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn B nhận thấy việc mua bán trái phép chất ma túy mang lại lợi nhuận nên đã sử dụng mạng xã hội Telegram đăng bài bán ma túy Cần sa. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/12/2024 tài khoản messenger tên "Phuong Hue" của Phạm Anh Đ nhắn tin cho B qua tài khoản "Hoàng Tử Mắt Đỏ” để hỏi mua ma túy Cần sa, sau khi nói chuyện cả hai thỏa thuận mua bán 05 gam ma túy Cần sa với giá 1.100.000 đồng và hẹn giao dịch tại số 141 Lê Văn H, phường Đ, quận B, TP. H. Phạm Anh Đ đã chuyển 1.100.000 đồng vào số tài khoản 45966668888 ngân hàng Techcombank của Trần Văn B để mua ma túy. Đ cho B số điện thoại 0587.393.277 để liên hệ. Sau đó Trần Văn B lên mạng xã hội mua của một người chưa rõ lai lịch 1.200.000 đồng ma túy cần sa. Sau khi mua được ma túy, B chia thành hai túi nhỏ, một túi để bán cho Đ, một túi để khi có khách hỏi mua thì bán tiếp. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày B đến điểm hẹn và dùng số 0392.302.519 của mình gọi điện cho Đ ra số 127 Lê Văn H, Đ, B, H để lấy ma túy. Khi cả hai chuẩn bị giao dịch mua bán ma túy Cần sa thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.
Thu giữ của Trần Văn B: 01 túi ni long màu trắng, kích thước 4cm x 6cm bên trong chứa thảo mộc khô; 01 túi ni lông màu trắng, kích thước 7cm x 10cm bên trong chứa thảo mộc khô; 01 điện thoại di động kiểu dáng iPhone 12 Promax, màu xanh lắp sim có số thuê bao 0392302519.
Thu giữ của Phạm Anh Đ: 01 điện thoại kiểu dáng Nokia màu đen lắp sim có số điện thoại 0587393277.
Kết luận giám định số 208 ngày 05/01/2025 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an thành phố H kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilông (4x6) cm là Cần sa, khối lượng 4,479 gam, thảo mộc khô bên trong 01 túi nilông (7x10) cm là Cần sa, khối lượng 1,065 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn B đã khai nhận hành vi như trên. Đối với Phạm Anh Đ mua ma túy của Trần Văn B nhưng chưa nhận được ma túy, xét nghiệm xác định Đ không sử dụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Đ.
Đối với đối tượng bán ma túy: quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã dẫn giải B đến địa chỉ nhận ma túy nhưng không phát hiện đối tượng bán ma túy cho B. Về nội dung mua bán qua tin nhắn trên ứng dụng Telegram, B đã xóa hết. B khai không biết nhân thân lai lịch người bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSBTL, ngày 17/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố Trần Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 24 đến 30 tháng tù; vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ, tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động, truy thu của bị cáo 1.100.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố H; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác đã trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 27/12/2024, tại khu vực trước số 127 Lê Văn H, phường Đ, quận B, thành phố H, Trần Văn B có hành vi bán trái phép 4,479 gam ma túy cần sa cho Phạm Anh Đ và tàng trữ 1,065 gam ma túy cần sa để bán thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý. Bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì tư lợi, bị cáo coi thường pháp luật, mua đi bán lại tiếp tay cho tệ nạn ma túy, không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:
- 02 (hai) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau trích mẫu giám định cùng tang vật được hoàn trả lại trong phong bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Trần Văn B, cán bộ Công an và Giám định viên thuộc loại nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại kiểu dáng Nokia màu đen lắp số thuê bao 0587393277 và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone 12 Promax màu xanh lắp số thuê bao 0392302519 là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Trần Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
3. Xử phạt: Trần Văn B 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2024.
4. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau trích mẫu giám định cùng tang vật được hoàn trả lại trong phong bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Trần Văn B, cán bộ Công an và Giám định viên.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại kiểu dáng Nokia màu đen lắp số thuê bao 0587393277 đã qua sử dụng;
+ 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng iPhone 12 Promax màu xanh lắp số thuê bao 0392302519 đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 147/25 ngày 20/3/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận B và Công an quận B, thành phố H).
5. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. .
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - TT lý lịch-Sở Tư pháp H; - VKSND Q. B; - VKSND thành phố H; - TAND thành phố H;`` - Công an Q. B; - Chi cục THADS Q. B; - Lưu HS - VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Văn Q |