vanban.org

Bản án 66/2022/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 16/11/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc yêu cầu ông Phạm Ngọc T phải bồi thường các khoản thiệt hại về sức khỏe gồm:

Tiền viện phí và thuốc điều trị tại nhà: 4.363.000đ (Bốn triệu ba trăm sáu mươi ba triệu); Tiền ngày nghỉ do không lao động được: 40 ngày x 200.000đ/ngày = 8.000.000đ (Tám triệu đồng); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa bà Đ và ông T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc yêu cầu ông Phạm Ngọc T phải bồi thường các khoản thiệt hại về sức khỏe gồm:
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:66/2022/DS-PT
Ngày 16 tháng 11 năm 2022
V/v Tranh chấp bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền;

Các Thẩm phán: Ông Tạ Văn Thành.

Bà Điêu Thị Bích Lượt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số: 57/2022/TLPT-DS ngày 03/10/2022 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” . Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2022/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 72/2022/QĐXX - PT ngày 02 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu C, xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu C, xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

(Bà Đ, ông T có mặt).

Néi dung vô ¸n:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Vũ Thị Đ trình bày: Chiều ngày 19/02/2020 khi bà Đng ở nhà một mình thì nghe tiếng ông T gọi dưới đường, vườn dưới trước cửa nhà bà. Lúc đó ông T vác thang đi xem công T điện. Bà đứng trên thềm sân nhà thì ông T bảo bà lấn chiếm bờ ruộng, bà có trả lời ruộng bà làm mượn, bà không lấn chiếm. Ông T đi xuống bờ ruộng quát chửi bậy, bắt bà xuống ruộng. Bà không làm sai quyết định không xuống. Ông T có chửi “A, Đ. mẹ con này, mày không xuống tao lên tao giết mày”, rồi ông T chạy từ ruộng lên nhà bà, áp đáo đánh bà, đấm bà vào bụng vào người, lôi kéo tóc bà. Bà sợ kêu to “Làng nước ơi, T nhà N - T đến nhà tôi áp đáo đánh đập tôi”. Trong lúc ông T đánh bà, bà T (mẹ đẻ ông T) là người được biết chứng kiến, quát T về. Trong khi ông T đánh bà, ông T còn nói “Tao định giết mày mấy lần rồi nhưng chưa có cơ hội, hôm nay tao giết mày, tao giết chết cả nhà mày để tao đi tù cả thể”

Sau khi bị đánh, bà gọi điện cho Công an viên đến để giải quyết. Sau đó có công an viên, Bí thư chi bộ thôn và trưởng thôn đến. Đồng thời bà cũng gọi cho cH bà và chị H là chủ ruộng vào.

Khi mọi người đến nhà bà thì bà cùng mọi người xuống bờ ruộng xác minh bờ cõi. Cán bộ thôn không chứng minh được bà lấn bờ ruộng nhà ông T. Chị H cũng công nhận bà không lấn bờ ruộng. Khi đó có cả ông T.

Ngay sau đó mọi người về nhà bà, ông Quyền là công an viên của thôn có lập biên bản về việc bà bị ông T đánh để bà đi kiểm tra tại bệnh viện. Khi bị ông T đánh bà bị Đau ở trong người, run gối, không còn bình tĩnh, bà chỉ biết Đau trong người. Khi đó cũng không ai vạch bụng bà lên để kiểm tra thương tích. Khi công an viên lập biên bản, bà có ký biên bản, có ông T, ông Q, bà T, bà Đ, bà H chứng kiến.

Ngay sau đó cH bà đưa bà đến Phòng khám Bạch Mai 2 ở khu phố Cốc, xã Tây Cốc để kiểm tra chiếu chụp. Đến ngày hôm sau (20/02/2020), bà tiếp tục đến Phòng khám Sao Việt 103 ở khu phố Cốc, xã Tây Cốc để kiểm tra lại do còn bị Đau. Chiều ngày 24/02/2020, bà lên Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương kiểm tra lại. Sáng ngày 25/02/2020, bà nhập Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương điều trị, đến chiều ngày 26/02/2020 thì ra viện.

Bà xác định thương tích của bà là do ông T gây ra. Bà yêu cầu ông T phải bồi thường các thiệt hại gồm:

+ Tiền viện phí và thuốc điều trị tại nhà: 4.363.000đ, gồm các khoản:

- Tiền khám tại Phòng khám Bạch Mai 2: 126.000đ (Một trăm hai mươi sáu nghìn đồng);

- Tiền khám tại Phòng khám Sao Việt 103: 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và 178.000đ (Một trăm bảy mươi tám nghìn đồng) tiền thuốc;

- Chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương: 2.759.000đ (Hai triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng);

- Thuốc xoa bóp của con trai cho: 1.000.000đ (Một triệu đồng);

- Tiền mua thuốc nam: 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng)

+ Tiền ngày nghỉ do không lao động được: 40 ngày x 200.000đ/ngày = 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

+ Tiền công người đưa đi viện: 475.000đ (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), gồm: ½ ngày 19/02/2020, ông Hà (cH bà) đưa đi Phòng khám Bạc Mai 2 = 125.000đ (Một trăm hai lăm nghìn đồng); ½ ngày 20/02/2020 chị H đưa đi Phòng khám Sao Việt 103 = 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); ½ ngày 24/02/2020 chị Trang đưa đi Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương = 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); ½ ngày 25/02/2020 anh Dũng đưa đi Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương = 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng);

+ Tiền ngày công người chăm sóc tại Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương 02 ngày = 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

+ Tiền bồi thường danh dự nhân phẩm do bị xúc phạm: 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Tổng cộng là: 18.338.000đ (Mười tám triệu ba trăm ba mươi tám nghìn).

Trong số các chi phí trên, thì việc khám tại Phòng khám Bạch mai 2, Phòng khám Sao việt 103, Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương bà có hóa đơn chứng từ. Tuy nhiên hiện bà chỉ giữ bản gốc hóa đơn của Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương, còn hóa đơn tại Phòng khám Bạch mai 2 và Phòng khám Sao Việt 103 bà đã nộp cho Công an xã L nên không còn bản gốc nữa. Còn tiền thuốc xoa bóp con trai cho và mua thuốc nam, bà không có hóa đơn chứng từ.

Bị đơn là ông Phạm Ngọc T trình bày: Chiều ngày 19/02/2020, ông vác thang đi xem số công T điện. Ông nhìn thấy bờ ruộng giữa nhà ông với nhà bà Đ có cắm cọc mới. Ông gọi bà Đ xuống, mục đích yêu cầu bà Đ cắm lại bằng cọc to (vì bà Đ cắm cọc nhỏ, nhọn sợ đi giẫm vào chân) cho rõ ràng. Khi gọi bà Đ xuống cắm cọc, lúc đầu ông gọi chị xưng em, nhưng nhiều lần bà Đ không xuống. Tức quá ông gọi “mày có xuống cắm lại không” thì bà Đ bù lu bù loa lên, kêu làng nước là ông lợi dụng cH con bà Đ đi vắng, áp đáo bà ấy. Khi ông gọi và vị trí bà Đ đứng cách nhau khoảng 50m (ông đứng ở đứng dưới bờ ruộng, còn bà Đ đứng trên vườn nhà bà ấy). Lúc bà Đ kêu thì có bà T là mẹ ông đứng ở trên nhà gọi ông đi về, không dây dưa gì với bà Đ, ông vác thang đi về.

Sau khi về, ông ăn cơm, đi sát gạo xong thì anh công an viên gọi ông xuống bờ ruộng. Tại đây ông có thấy trưởng thôn, công an viên, bí thư chi bộ thôn, bà H (người cho bà Đ mượn ruộng) và mấy người nữa. Mọi người xem xét xong thì về. Một thời gian sau (ông không nhớ rõ ngày) thì cắm lại cọc bê tông bờ ruộng, có mặt cả bà H.

Bà Đ cho rằng ông đánh bà ấy là hoàn toàn không đúng, vì khoảng cách gần nhất, ông còn đứng cách bà Đ 10m (vị trí lúc ông vác thang đi về thì bà Đ chạy xuống góc vườn nhà bà ấy). Nếu ông đánh bà Đ, thì chắc chắn phải gây thương tích, đồng thời phải rơi điện thoại bà Đ Đng cầm trên tay. Sự việc chỉ diễn ra trong vòng vài phút, khi đó chỉ có ông và bà Đ, không có ai khác. Một lúc sau (lúc bà Đ kêu la) thì mới có mẹ ông đứng trên nhà gọi về.

Việc bà Đ đi khám thương tích là do bà ấy tự ăn vạ, chứ ông không gây thương tích cho bà Đ. Do vậy bà Đ yêu cầu ông phải bồi thường, ông không nhất trí.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DS-ST ngày 29/6/2022 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định.

- Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 593 của Bộ luật dân sự;

- Áp dụng khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc yêu cầu ông Phạm Ngọc T phải bồi thường các khoản thiệt hại về sức khỏe gồm:

- Tiền viện phí và thuốc điều trị tại nhà: 4.363.000đ (Bốn triệu ba trăm sáu mươi ba triệu);

- Tiền ngày nghỉ do không lao động được: 40 ngày x 200.000đ/ngày = 8.000.000đ (Tám triệu đồng);

- Tiền công người đưa đi viện: 475.000đ (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng);

- Tiền ngày công người chăm sóc tại Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương 02 ngày: 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

- Tiền bồi thường danh dự nhân phẩm do bị xúc phạm (tổn thất về tinh thần): 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Tổng cộng: 18.338.000đ (Mười tám triệu ba trăm ba mươi tám nghìn).

Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định.

Kháng cáo: Ngày 12/7/2022 bà Vũ Thị Đ có đơn kháng cáo: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm Buộc ông Phạm Ngọc T phải bồi thường thương tích cho bà Đ các khoản gồm: Tiền viện phí, tiền ngày nghỉ do không lao động được: 40 ngày; tiền công người đưa đi viện: 475.000đ (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); tiền ngày công người chăm sóc tại Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương 02 ngày; tiền bồi thường danh dự nhân phẩm do bị xúc phạm (tổn thất về tinh thần).Tổng cộng: 18.338.000đ (Mười tám triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Tại phiên toà phúc thẩm bà Vũ Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới. Tại phiên toà bà Đ trình bày khi xô sát giữa ông T và bà không có ai chứng kiến, mà chỉ có bà T (là mẹ đẻ ông T) khoảng cách giữa bà T và ông T, bà Đ khoảng 100m.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Về tố tụng Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DS-ST ngày 29/6/2022 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử xét xử thấy:

. Xét kháng cáo của bà Vũ Thị Đ, buộc ông T phải bồi thường cho bà số tiền là 18.338.000đ (Mười tám triệu ba trăm ba mươi tám nghìn đồng). Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Vũ Thị Đ và ông Phạm Ngọc T đều thừa nhận và xác định có sự việc va chạm xảy ra ngày 19/02/2020 do liên quan đến việc cắm cọc bờ ruộng. Sau khi xảy ra va chạm bà Đ có báo Công an viên, trưởng khu và Bí thư Chi bộ khu C đến giải quyết. Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 55/TgT ngày 09/4/2020 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Phú Thọ (BL 81 đến 84) kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Vũ Thị Đ tại thời điểm giám định vùng ngực, bụng không để lại thương tích; Cơ chế hình thành thương tích: Tại thời điểm giám định vùng ngực, bụng không để lại thương tích nên không xác định được cơ chế hình thành thương tích. Kết luận số 01/KL-CAX ngày 08/5/2022 của Công an xã L (BL 178) xác nhận bà Đ không có thương tích, không có căn cứ xác định ông T có hành vi gây thương tích cho bà Đ. Biên bản xác minh tại Bệnh viện Đ Khoa Hùng Vương (BL 122) thể hiện: vào hồi 07h20 phút ngày 25/02/2022 khi vào viện bà Đ khai bị chấn thương vào vùng ngực, bụng sau khi bị đánh... kết quả chụp XQ, xét nghiệm... bà Đ đều không có biểu hiện bất thường khi thăm khám bà Đ khai bị Đau tức, kêu Đau là do ý chí chủ quan của bà Đ, còn khai vào viện bà Đ không có biểu hiện thương tích gì trên cơ thể, như bầm tím da, xây sát... Biên bản xác minh tại Phòng khám 103 do ông Phạm Văn Mạnh (BL 120) cung cấp, kết quả chụp X Q thể hiện không có hình ảnh liềm hỏi dưới cơ hoành, không có hình ảnh mức nước mức hơi. Việc kết luận chấn thương phần mềm chỉ là chẩn đoán theo lời kể của bà Đ chứ bà Đ không có biểu hiệu thương tích gì (bầm tím, xây sát ngoài ra). Tại (BL 36) bà T là người chứng kiến có lời khai khẳng định “ không có việc anh T đánh bà Đ vì 2 người vẫn đứng cách xa nhau, anh T ở dưới ruộng, còn bà Đ ở trên vườn bưởi nhà bà Đ. Điều này phù hợp với lời khai của các đương sự tại phiên toà.

Sau khi sự việc xảy ra bà Đ có báo ông Trần Văn Quyền - Công an viên khu C, ông Trần Anh Q - Trưởng khu C, ông Trịnh Q T - Bí thư chi bộ khu C, các ông đều xác định, sau khi sự việc xảy ra có đến nhà bà Đ, khi đến bà Đ còn đi lại chửi bới, không ai nhìn thấy thương tích gì trên cơ thể bà Đ. Trong quá trình giải quyết bà Đ cũng không có tài liệu chứng cứ gì xác định việc ông T gây thương tích cho bà. Do vậy, bà Đ có chi phí về đi khám thương tích, nhưng ông T không gây thương tích cho bà Đ, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ.

. Đối với yêu cầu triệu tập thêm nhân chứng: Bà Nguyễn Thị Đ, bà Đinh Thị Bích H, ông Nguyễn T Hà, ông Trần Văn Quyền, ông Trịnh Q T, ông Trần Anh Q là không có căn cứ. Bởi khi sự việc xảy ra vào ngày 19/02/2020 bản thân bà Đ khẳng định khi sự việc xảy ra chỉ có ông T và bà, bà T mẹ ông T cách khoảng 100m. Hơn nữa, bà Đ, bà H, ông Hà, ông Quyền, ông T đã có lời khai trong hồ sơ tại các BL 37,38,39,41đều khai nhận không được chứng kiến sự việc. Vì vậy, việc bà Đ yêu cầu triệu tập những nhân chứng trên là không được chấp nhận.

Từ những nhận định mục [1]. [2], Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DS-ST ngày 29/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên toà phù hợp nên được chấp nhận.

.Về án phí: Kháng cáo của bà Vũ Thị Đ không được chấp nhận, tuy nhiên bà Vũ Thị Đ thuộc trường hợp người yêu cầu bồi thường về sức khỏe miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Đ, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DS-ST ngày 29/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ.

- Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 593 của Bộ luật dân sự;

- Áp dụng khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d, khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc yêu cầu ông Phạm Ngọc T phải bồi thường các khoản thiệt hại về sức khỏe gồm:

- Tiền viện phí và thuốc điều trị tại nhà: 4.363.000đ (Bốn triệu ba trăm sáu mươi ba triệu);

- Tiền ngày nghỉ do không lao động được: 40 ngày x 200.000đ/ngày = 8.000.000đ (Tám triệu đồng);

- Tiền công người đưa đi viện: 475.000đ (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng);

- Tiền ngày công người chăm sóc tại Bệnh viện Đ khoa Hùng Vương 02 ngày: 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

- Tiền bồi thường danh dự nhân phẩm do bị xúc phạm (tổn thất về tinh thần): 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Tổng cộng: 18.338.000đ (Mười tám triệu ba trăm ba mươi tám nghìn).

2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm cho bà Vũ Thị Đ theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ