vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín chứa ma túy, tại các mép dán có chữ ký của Trần Ngọc Th, cán bộ Công an Đặng Thanh H, giám định viên Lê Khắc N; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày 12-4-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Biền và ông Phùng Văn Tầu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

TRẦN NGỌC TH, sinh năm 1963; ĐKHKTT và nơi ở: Số x Ngõ yNLB, phường NĐ, quận ĐĐ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ch (đã chết) và bà Lê Thị C1; có vợ là Lê Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

+ Ngày 11/3/1979 bị Công an quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản của công dân;

+ Ngày 23/7/1982 bị Công an huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản của công dân;

+ Ngày 12/7/1986 bị Công an quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội cảnh cáo về hành vi đánh bạc;

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 179/HSST ngày 16/7/1987 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, đã được xóa án tích;

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 80/HSST ngày 26/3/1992 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, đã được xóa án tích;

+ Quyết định số 4777/QĐ-UBND ngày 28/12/2010 của Ủy bán nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện ma túy, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 20/12/2012.

Các Quyết định xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp xử lý đều đã đủ thời gian để được coi như chưa bị xử lý hành chính.

Bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam: từ ngày 16/12/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 02 Công an Thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 16/12/2022, Trần Ngọc Th đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ số thuê bao 0328700693 của người nam giới (chưa rõ nhân thân, lai lịch) gọi đến số thuê bao 0945490334 của Th. Qua điện thoại, người nam giới hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy Heroine, Th đồng ý bán và hẹn giao hàng tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hà Nội, địa chỉ: phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Sau đó, Th đi xe ôm từ nhà đến khu vực chợ Khâm Thiên thuộc quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy về bán lại kiếm lời. Th mua của 01 người nam giới không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói giấy kích thước (02x01)cm bên trong chứa ma túy Heroine với giá 300.000 đồng. Th cất gói ma túy vào trong túi áo khoác ngoài bên trái và đi xe ôm đi về Ngõ zz đường Nguyễn Lương Bằng đợi bạn là Đinh Mạnh C, sinh năm 1966, HKTT: Ngõ zz, phường NĐ1, quận ĐĐ, Thành phố Hà Nội đến đón cùng vào Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hà Nội để uống thuốc Methadone. Một lúc sau, ông C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vison, BKS: 29E2-253.68 đến và chở Th đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hà Nội. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi Th đang đứng đợi người mua ma túy tại sân của Trung tâm thì bị lực lượng công an phường Phú Lãm phối hợp cùng đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an quận Hà Đông kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc của Th 01 gói giấy kích thước (02x01)cm bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản tại chỗ, đưa Th cùng vật chứng về trụ sở làm rõ.

Vật chứng của vụ án thu giữ gồm:

- 01 (một) gói giấy kích thước (02x01)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy);

- 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo F1S màu đen trắng, số IMEI: 863691038388612, lắp sim số 0945490334.

Kết luận giám định số 8546/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,151 gam.

Ngày 17/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 18 và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Ngọc Th tại số nhà x, ngõ yNLB, phường NĐ1, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội nhưng không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Trong giai đoạn điều tra, Trần Ngọc Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 59/CT-VKS-HĐ ngày 29/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Ngọc Th về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội luận tội cho rằng tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên giữ nguyên nội dung truy tố. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự công cộng, làm gia tăng tệ nạn xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; đã nhiều lần bị xét xử nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, cần áp dụng áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo; tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 16/12/2022, Trần Ngọc Th nhận được cuộc điện thoại của một người nam giới hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy Heroine, hẹn giao ma túy tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hà Nội, Th đồng ý bán nên đã đến khu vực chợ Khâm Thiên thuộc quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội mua của 01 người nam giới không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói Heroine cân nặng 0,151 gam với giá 300.000 đồng. Th cất gói ma túy vào trong túi áo khoác ngoài bên trái, sau đó Th cùng bạn là Đinh Mạnh C vào Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hà Nội để uống thuốc Methadone. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi Th đang đứng đợi người mua ma túy tại sân của Trung tâm thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi cất giấu 0,151 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời của bị cáo Trần Ngọc Th thỏa mãn dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời bất chính, hành vi của các bị cáo đã góp phần làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án xử phạt tù và xử lý hành chính nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không tu dưỡng bản thân, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục các bị cáo Th người có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

+ Đối với các Bản án hình sự sơ thẩm số 179/HSST ngày 16/7/1987 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt Trần Ngọc Th 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Bản án hình sự sơ thẩm số 80/HSST ngày 26/3/1992 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt Trần Ngọc Th 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/4/1993, bị cáo đã được xóa án tích;

+ Đối với các Quyết định xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị cáo đều đã đủ thời gian để được coi như chưa bị xử lý hành chính.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã Th khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giữ, tạm giam được tính trừ một ngày tù.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Trần Ngọc Th một số vật chứng cần xử lý như sau:

- 01 (một) gói giấy kích thước (02x01)cm, bên trong chứa Heroine, khối lượng: 0,151 gam. Sau khi Cơ quan giám định trích mẫu 0,019 gam, số ma túy còn lại được cho vào 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Trần Ngọc Th, cán bộ Công an Đặng Thanh H, giám định viên Lê Khắc N (BL57, 58). Xét thấy, ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy

- 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo màu đen trắng, lắp sim số 0945490334, Th khai là chiếc điện thoại của Th dùng để liên lạc bán ma túy, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Trần Ngọc Th khai số ma túy bị Công an thu giữ là do Th mua của một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi ở khu vực chợ Khâm Thiên, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Ngoài lời khai của Th không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, nếu đủ căn cứ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

- Đối với ông Đinh Mạnh C: Ông C là người được Trần Ngọc Th nhờ điều khiển xe máy chở đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hà Nội để cùng uống thuốc Methadone, ông C không biết việc Th mang ma túy đi bán nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với số thuê bao 0328700693 gọi điện hỏi mua ma túy của Trần Ngọc Th: Kết quả điều tra xác định, chủ số thuê bao là hộ kinh doanh Hoàng Thị B, địa chỉ: thôn ĐC, xã YB, huyện TĐ, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của bà Hoàng Thị B, bà B cho biết: Vào khoảng tháng 7 năm 2021, bà B mua và sử dụng số thuê bao 0328700693. Đến tháng 8 năm 2022, bà B bị mất điện thoại có lắp sim số thuê bao trên. Từ đó đến nay, bà B không sử dụng số thuê bao đó nữa, hiện ai là người sử dụng thì bà B không biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Ngọc Th 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín chứa ma túy, tại các mép dán có chữ ký của Trần Ngọc Th, cán bộ Công an Đặng Thanh H, giám định viên Lê Khắc N;

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo, lắp sim số 0945490334 thu giữ của Trần Ngọc Th.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Ngọc Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 12/4/2023.

Cỡ chữ