- Tranh chấp gì? án hình sự — "buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Minh P và Trương Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 508/2022/HSST Ngày: 29-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Kim Mỹ
2. Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 439/2022/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 548/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
1/ Ngô Minh P; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/3/1984 tại: tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp S, xã D, huyện D, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 12/12; Nghề ngH: Buôn bán; Họ tên cha: Ngô Văn N, sinh năm: 1955 (chết); Họ tên mẹ: Trần Thị T, sinh năm: 1957; Anh chị em ruột: có 03 người, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1986; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1983; Con: Ngô Thục Nghi, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/8/2022, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Trương Văn H; Giới tính: Nam, Sinh ngày: 09/01/2001 tại Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp S, xã D, huyện F, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 10/12; Nghề ngH: Phụ xe; Họ tên cha: Trương Văn H, sinh năm: 1974; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1977; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là đầu trong gia đình; Vợ, con : Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/8/2022, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Văn M, Giới tính: Nam, Sinh ngày: 01/01/1996 tại Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp D, xã S, huyện D, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 10/12; Nghề ngH: Lái xe; Họ tên cha: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1968; Họ tên mẹ: Lê Thị Bé S, sinh năm: 1968; Anh chị em ruột: không; Vợ: Lê Thị Bích H, sinh năm: 1999; Con: Nguyễn Lê Minh T, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/8/2022, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm: 1983 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã D, huyện D, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Minh P làm chủ vựa buôn bán nông sản tại xã Mỹ Long, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. P thuê Trương Văn H giúp việc buôn bán, Nguyễn Văn M làm tài xế xe tải biển số 63C-100.00 do P đứng tên sở hữu. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/8/2022, H đến vựa rau tại xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang để cùng Minh là tài xế xe tải biển số 63C-100.00 bốc vác hàng lên xe tải để chuyển hàng đến Chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức giao cho khách hàng. Sau khi chất hàng rau xong, H, M khiêng thuốc lá lên xe tải (thuốc lá được bỏ trong 04 bịch, gồm 02 bịch nilon màu đen, 01 thùng catton và 01 túi nhựa màu xanh) và chở lên Chợ Đầu mối Nông sản Thực phẩm Thủ Đức để bán cho người có nhu cầu. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/8/2022 H, M đang xuống hàng rau tại khu vực trước lồng khu B, chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức thì, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an thành phố Thủ Đức kiểm tra xe tải hiệu Fuso màu trắng biển số 63C-100.00 do Nguyễn Văn M, Trương Văn H quản lý phát hiện có thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet có nguồn gốc nước ngoài, không có tem nhãn bằng tiếng Việt Nam (số lượng 2000 bao) được cất giấu trên thùng hàng xe tải biển số 63C-100.00 nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Văn H, Nguyễn Văn M.
Từ lời khai Trương Văn H, Nguyễn Văn M, Cơ quan điều tra mời Ngô Minh P làm việc và khai nhận: P đang buôn bán nông sản tại xã Mỹ Long, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. P là chủ sở hữu xe ô tô tải hiệu Fuso màu trắng biển số 63C-100.00. P khai nhận là chủ số thuốc lá hiệu Jet số lượng 2000 bao thuốc lá trên có nguồn gốc nước ngoài, không có tem nhãn bằng tiếng Việt Nam đang bị Công an thành phố Thủ Đức kiểm tra phát hiện và tạm giữ. Toàn bộ số thuốc lá trên được tập kết tại vựa nông sản của P tại xã Mỹ Long, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Sau đó P thuê tài xế tên M và phụ xe tên H cùng bốc hàng nông sản và số thuốc lá trên lên xe tải biển số 63C-100.00 để vận chuyển lên Chợ Đầu mối Nông sản Thực phẩm Thủ Đức thuộc phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ. Số thuốc lá trên P mua trôi nổi trên thị trường tại khu vực huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang sau đó giao cho M vận chuyển, H bán cho người mua xung quanh khu vực chợ khi có nhu cầu. Khi có có người mua thì H gọi hỏi Phúc giá bán rồi H thu tiền đem về giao lại cho P.
Căn cứ vào công văn 98/CV-TĐ-2022 –HLHTLVN 03 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu ngày 10/8/2022 của H hội thuốc lá Việt Nam kết luận 03 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu JET do cơ quan cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Ngô Minh P, Trương Văn H, Nguyễn Văn M khai nhận rõ hành vi phạm tội như trên.
Cáo trạng số 406/CT-VKSTPTĐ ngày 14/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Ngô Minh P, Trương Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự và Nguyễn Văn M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc B trình bày: Xe tải hiệu Fuso màu trắng biển kiểm soát 63C-100.00 là tài sản chung của vợ chồng, việc Ngô Minh P sử dụng xe trên làm phương tiện buôn bán thuốc lá lậu bà không biết, nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà 1/2 giá trị chiếc xe.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Minh P từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 01 (Một) năm đến 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo;
Đối với vật chứng của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 2000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu hiệu Jet có nguồn gốc nước ngoài, không có tem nhãn bằng tiếng Việt.
Tịch thu 1/2 giá trị xe nộp ngân sách nhà nước và trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc B 1/2 giá trị đối với xe tải hiệu Fuso màu trắng biển kiểm soát 63C-100.00.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh dương, có số sim số 0376416414; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI 1868595040624397, số IMEI2 868595040624389; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, motel: A1784FCCID: BCG-E3092A IC: 579C-E3092A; sim số: 0344903539.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Đức, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Minh P, Trương Văn H, Nguyễn Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án đã xác định được vào ngày 03/8/2022, Ngô Minh P, Trương Văn H có hành vi mua đi bán lại 2000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu hiệu Jet có nguồn gốc nước ngoài, không có tem nhãn bằng tiếng Việt loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh tại Việt Nam dưới bất kì hình thức nào nhằm thu lợi bất chính. Như vậy đủ cơ sở kết luận Ngô Minh P, Trương Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Văn M có hành vi vận chuyển 2000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu hiệu Jet có nguồn gốc nước ngoài, không có tem nhãn bằng tiếng Việt từ xã Mỹ Long, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang lên Chợ đầu mối Nông sản Thực phẩm Thủ Đức thuộc phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn M phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Ngô Minh P và Trương Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm” và Nguyễn Văn M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, không có người cầm đầu. Bị cáo P là người thu gom nông sản của người dân vận chuyển lên Thành phố Hồ Chí Minh bán lại kiếm tiền lời nhưng chỉ vì một chút lòng tham nên đã thu gom một số lượng thuốc nhỏ trôi nỗi trên thị trường kèm theo nông sản mang lên Thành phố Hồ Chí Minh bán lại cho những người có nhu cầu để thu lợi, bị cáo Phúc là người chủ động phạm tội, bị cáo H là người làm công ăn lương, biết việc buôn bán thuốc lá lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham muốn có tiền tiêu xài nên đã giúp sức cho P thực hiện tội phạm, bị cáo M tuy không hưởng lợi trong việc mua bán thuốc lá lậu nhưng biết đó là loại hàng hóa cấm lưu hành nhưng vẫn cố ý vận chuyển. Hành vi buôn bán, vận chuyển hàng cấm của Ngô Minh P, Trương Văn H và Nguyễn Văn M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại do đó cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo M phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Ngô Minh P là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi mẹ già và con nhỏ, bị cáo Trương Văn H tuy phạm tội nghiêm trọng nhưng giữ vai trò thứ yếu chỉ là giúp sức. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng: khoản 1 Điều 190; khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng và Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đối với các bị cáo P và bị cáo H; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo P, H; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo M. Để có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo Ngô Minh P, Trương Văn H và Nguyễn Văn M có nhân thân tốt trước khi phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, thời gian tạm giam bị cáo P, H M đã có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, cho các bị cáo Ngô Minh P, Trương Văn H, Nguyễn Văn M hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng đủ để tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tịch thu tiêu hủy: 2000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu hiệu Jet có nguồn gốc nước ngoài, không có tem nhãn bằng tiếng Việt do là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, motel: A1784FCCID: BCG-E3092A IC: 579C-E3092A; sim số: 0344903539 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh dương, có số sim số 0376416414 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI 1868595040624397, số IMEI2 868595040624389 đã qua sử dụng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 (một) xe tải hiệu Fuso màu trắng biển kiểm soát 63C-100.00, là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Đây là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo Ngô Minh P và bà Nguyễn Thị Ngọc B nay bà Bích yêu cầu trả lại cho bà 1/2 giá trị xe là có cơ sở chấp nhận nên tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước nộp 1/2 giá trị của xe ô tô, 1/2 giá trị của xe ô tô trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc B. Yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành bán đấu giá 01 (một) xe tải hiệu Fuso màu trắng biển kiểm soát 63C-100.00 và nộp ngân sách nhà nước 1/2 giá trị của xe ô tô, còn 1/2 giá trị của ô tô trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc B.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Minh P và Trương Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Ngô Minh P 02 (Hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Ngô Minh P cho Ủy ban nhân dân xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Trương Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trương Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Long, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
3. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Hữu Đạo, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Tịch thu tiêu hủy: 2000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu hiệu Jet có nguồn gốc nước ngoài, không có tem nhãn bằng tiếng Việt.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, motel: A1784FCCID: BCG-E3092A IC: 579C-E3092A; sim số: 0344903539; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh dương, có số sim số 0376416414; 01(một) điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI 1868595040624397, số IMEI2 868595040624389.
- Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành bán đấu giá 01 (một) xe tải hiệu Fuso màu trắng biển kiểm soát 63C-100.00 và nộp ngân sách nhà nước 1/2 giá trị của xe ô tô, còn 1/2 giá trị của ô tô trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc B.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 2023/37 ngày 10/11/2022 của Công an thành phố Thủ Đức cho Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
5. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc Ngô Minh P, Trương Văn H, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
( Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo) CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |