vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022; Xử phạt: Bị cáo Dương Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C + ĐP "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 30-06-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Ký.

Bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn C, sinh ngày 06/11/1975 tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T và bà Trần Thị L (đều đã chết); Có vợ là Lê Thị Diệu L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2008; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 14/3/2012, bị Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (chấp hành xong án phạt tù ngày 25/02/2014); Ngày 23/3/2015, bị Toà án nhân dân Tối cao tại thành phố Đà Nẵng xử 09 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả” (chấp hành xong án phạt tù ngày 08/02/2021). Nhân thân: Ngày 10/6/2003, bị Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án; Ngày 19/01/2004, bị Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản, đến ngày 19/01/2006 chấp hành xong; Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2022 đến ngày 01/01/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Hà Trung. Có mặt.

2. Dương Văn H, sinh ngày 02/3/1974 tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn H và bà Lê Thị L; Có vợ là Trần Thị N và 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999 Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 27/01/2011, bị Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành xong; Ngày 24/4/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên miễn trách nhiệm hình sự (do chuyển biến của tình hình tội phạm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy), đã chấp hành xong; Bị tạm giữ từ ngày 24/12/2022 đến ngày 02/01/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Hà Trung. Có mặt.

3. Nguyễn Văn K, sinh ngày 25/10/1974 tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); Có vợ là Vũ Tâm Đ và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2003; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 01/11/2001, bị Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đã chấp hành xong; Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2022 đến ngày 01/01/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Hà Trung. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Dương Hồng S, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

2. Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

3. Anh Trịnh Hoài N, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 15 phút ngày 23/12/2022, tổ công tác Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá phối hợp với Công an xã Yến Sơn, huyện Hà Trung làm công tác quản lý đối tượng nghiện trên địa bàn xã Yến Sơn, tiến hành kiểm tra đối tượng Phạm Văn C thì C tự nguyện giao nộp một túi ni lông màu trắng, bên trong chứa 06 gói nhỏ, bên ngoài mỗi gói nhỏ đều được bọc bằng lớp giấy trắng có chữ viết, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, C khai là ma túy do C cất giấu nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong 06 gói ma túy, kí hiệu “vụ Phạm Văn C”; thu giữ 01 điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng, số IMEI: 356739082360010 và đưa C về trụ sở để làm việc. Khám xét nơi ở của C không thu giữ được gì.

Quá trình điều tra xác định: Về nguồn gốc số ma túy Công an thu giữ trên là C mua của Nguyễn Văn K ở thôn Tây Ninh, xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 23/12/2022 với giá 900.000đ. Sau khi mua được ma túy của Hóa, C mang về nhà dùng dao lam chia nhỏ thành 06 gói rồi cất giấu vào chậu hoa để trong sân nhà, chưa kịp bán và sử dụng thì Công an đến kiểm tra nên C đã tự nguyện giao nộp 06 gói ma túy cho Công an.

Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn K, thu giữ: 01 túi nilong màu trắng, bên trong đựng một cục màu trắng ngà dạng cục vụn ở trong túi quần dài bên phải K đang mặc, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Vụ Nguyễn Văn K”; 01 quyển sách lịch vạn sự 2019 đã bị xé rách, 03 mảnh giấy có chữ viết, 02 dao lam đã qua sử dụng, 01 vỏ túi nilon bên trong không có gì được niêm phong trong phong bì ký hiệu:“M vụ Nguyễn Văn K”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, gắn sim điện thoại số 0972056905.

Nguyễn Văn K khai nhận: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 20/12/2022 K dùng sim điện thoại số 0972056905 gọi đến số điện thoại 0969884689 của Dương Văn H ở thôn Kim Đề, xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung hỏi mua 1.200.000đ ma túy thì H đồng ý, H bảo K đến nhà rồi đưa cho K 01 túi nilong màu trắng, bên trong đựng ba cục nhỏ màu trắng ngà là Heroine, K cầm ma túy bỏ vào trong túi quần rồi chuyển 1.000.000đ qua tài khoản ngân hàng, Seabank, chủ tài khoản là Dương Hồng S, số tài khoản 000004313920, và đưa 200.000đ tiền mặt cho H. Sau khi mua được ma túy, K mang về nhà lấy ra một ít để sử dụng, số còn lại K chia ra làm hai phần, một phần bán cho Phạm Văn C vào sáng ngày 23/12/2022 lấy 900.000đ, phần còn lại K bỏ vào trong túi quần đang mặc, đến buổi chiều cùng ngày khi đang ở nhà thì Công an vào khám xét khẩn cấp và thu giữ gói ma túy trên.

Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn H, thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền đỏ, bên trong có chứa chất bột trắng ngà, được niêm phong trong phong bì ký hiệu: “A vụ Dương Văn H”; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, số IMEI: 359215079585239 đã qua sử dụng; 01 vỏ túi nilon bên trong không có gì; 02 quyển vở ôli đã bị xé rách; 01 dao lam đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu: “B vụ Dương Văn H”.

Dương Văn H khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 20/12/2022, H đi xe máy đến ngã ba xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa mua ma túy, loại Heroine của một người đàn ông khoảng 45 tuổi không quen với giá 1.000.000đ về để sử dụng và bán kiếm lời. Đến 19 giờ cùng ngày, có Nguyễn Văn K, ở thôn Tây Ninh, xã Yến Sơn, huyện Hà Trung gọi điện thoại sử dụng số 0972056905 hỏi mua 1.200.000đ ma túy thì H đồng ý, H đưa cho K ba cục nhỏ màu trắng ngà là Heroine đựng một túi nilon màu trắng, do không đủ tiền mặt nên K đã chuyển khoản số tiền 1.000.000đ vào tài khoản ngân hàng Seabank, số tài khoản ngân hàng 000004313920 mang tên Dương Hồng S, là con trai H, còn 200.000đ K đưa tiền mặt cho H rồi đi về, số ma túy còn lại đến sáng ngày 24/12/2022 bị Công an đến khám xét và thu giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 235/KL-KTHS ngày 31/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong mặt trước có ghi “Vụ Phạm Văn C” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,564g (không phẩy năm sáu bốn gam), loại: Heroine.

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong mặt trước có ghi “Vụ Nguyễn Văn K” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,474g (không phẩy bốn bảy bốn gam), loại: Heroine.

- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong mặt trước có ghi “A Vụ Dương Văn H” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,495g (không phẩy bốn chín năm gam), loại: Heroine.

Quá trình điều tra, Phạm Văn C còn khai nhận: Vào ngày 14/12/2022, C đã mua hộ cho Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990 ở thôn Thành Ninh, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc 01 gói ma túy của Trịnh Hoài N, sinh năm 1991 ở thôn Đông Trung, xã Hà Bình, huyện Hà Trung với giá 500.000đ. Đến ngày 21/12/2022, Th tiếp tục gọi điện cho C và hỏi mua của C 500.000đ ma tuý, do đang có sẵn một gói ma tuý mới mua được ngày 21/12/2022 của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ ở gần cổng Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung với giá 400.000đ nên C đồng ý bán lại cho Th với giá 500.000đ.

Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355345087641452; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 356739082360010; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI: 359215079585239 đều đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá để chờ xử lý.

Cáo trạng số: 47/CT-VKSHT ngày 15/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá truy tố Phạm Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố Dương Văn H và Nguyễn Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H và Nguyễn Văn K đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H và Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Căn cứ: Điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn H với mức án từ 30 đến 36 tháng tù.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K với mức án từ 27 đến 33 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng có liên quan trong 02 phong bì niêm phong ký hiệu: “B vụ Dương Văn H” và “M vụ Nguyễn Văn K”.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355345087641452; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 356739082360010; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI: 359215079585239;

- Truy thu của bị cáo C số tiền 500.000đ, truy thu của bị cáo H số tiền 1.200.000đ, truy thu của bị cáo K số tiền 900.000đ do phạm tội mà có để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Buộc các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa và không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Ngày 23/12/2022, tại thôn Đông Ninh, xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, Công an huyện Hà Trung phối hợp với Công an xã Yến Sơn bắt quả tang Phạm Văn C tàng trữ trái phép chất ma túy, trọng lượng 0,564g (không phẩy năm sáu bốn gam) loại: Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Quá trình điều tra còn xác định, trước đó vào ngày 21/12/2022 C mua 01 gói ma túy trị giá 400.000đ của một người đàn ông không quen biết về bán cho Nguyễn Văn Th để lấy 500.000đ. Về nguồn gốc ma túy Công an thu giữ tại nhà C ngày 23/12/2022 là do C mua của Nguyễn Văn K với giá 900.000đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của K, thu giữ 0,474g (không phẩy bốn bẩy bốn gam) loại: Heroine, Hóa để sử dụng và bán kiếm lời. Nguồn gốc số ma túy K bán cho C và số ma túy Công an thu giữ tại nhà K là do K mua của Dương Văn H vào ngày 20/12/2022 với giá 1.200.000đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn H, thu giữ 0,495g (không phẩy bốn chín năm gam) loại: Heroine, H để sử dụng và bán kiếm lời.

Lời khai nhận tội của Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K thống nhất với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, đồng thời phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo C là đối tượng đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; đối với bị cáo H và bị cáo K quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Đây là vụ án hình sự “Mua bán trái phép chất ma túy” do các đối tượng nghiện ma tuý là Phạm Văn C, Dương Văn H và Nguyễn Văn K thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo C có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo H và bị cáo K có tính chất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện hút ma túy là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của tệ nạn ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi và để thỏa mãn những dục vọng thấp hèn mà các bị cáo đã cố tình phạm tội.

Trong vụ án này, các bị cáo Phạm Văn C, Nguyễn Văn K, Dương Văn H đều thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng độc lập với nhau ở từng hành vi, không thuộc trường hợp đồng phạm. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập, tương xứng với hành vi của bản thân đã gây ra, cụ thể: Đối với bị cáo Phạm Văn C, ngoài việc mua ma tuý của bị cáo Nguyễn Văn K về để sử dụng và bán kiếm lời, trước đó bị cáo đã mua hộ ma tuý một lần và bán ma tuý một lần cho đối tượng nghiện ma tuý; đối với bị cáo Dương Văn H đã mua ma tuý về bán cho bị cáo K để bị cáo K bán lại cho bị cáo C, và bị cáo còn để lại một phần để sử dụng, bán kiếm lời; còn bị cáo Hoá thực hiện hành vi mua ma tuý của bị cáo H và bán cho bị cáo C, bị cáo cũng để lại một phần để sử dụng và bán kiếm lời.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo Phạm Văn C, Nguyễn Văn K, Dương Văn H đều là những đối tượng có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng chung 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo H có bố đẻ tham gia thực hiện nghĩa vụ quốc tế với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, được tặng thưởng huân chương tự do Ít - Xa - La hạng nhất; bị cáo K có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Pháp, được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen và mẹ đẻ có công tham gia dân công hoả tuyến trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bảo vệ Tổ quốc nên bị cáo H và bị cáo K được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Từ sự phân tích, cá thể hóa về nhân thân, cũng như trách nhiệm hình sự của các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H và Nguyễn Văn K như đã nêu trên, căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của từng bị cáo, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời việc cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết; Nhưng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hhoongf của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành những người công dân tốt.

Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H và Nguyễn Văn K đều là những đối tượng không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với 1,389 gam ma túy, loại Heroine, (còn lại sau giám định - trong phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa) là vật cấm lưu hành; 02 quyển vở ôli đã bị xé rách; 01 dao lam đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu: “B vụ Dương Văn H”; 01 quyển sách lịch vạn sự 2019 đã bị xé rách, 03 mảnh giấy có chữ viết, 02 dao lam đã qua sử dụng, 01 vỏ túi nilon được niêm phong trong phong bì ký hiệu: “M vụ Nguyễn Văn K” là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355345087641452; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 356739082360010; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng số IMEI: 359215079585239 là phương tiện phạm tội của các bị cáo cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 500.000đ là tiền do Phạm Văn C phạm tội mà có, 1.200.000đ là tiền do Dương Văn H phạm tội mà có, 900.000đ là tiền do Nguyễn Văn K phạm tội mà có cần truy thu, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K là những người bị kết án nên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Khoản 1; điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022;

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2022.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 27 (hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022.

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, các điểm a, b khoản 2 Điều 106; Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 1,389g (một phẩy ba tám chín gam) ma túy, loại Heroine (còn lại sau giám định - trong phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa); 02 quyển vở ôli đã bị xé rách; 01 dao lam đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu: “B vụ Dương Văn H”; 01 quyển sách lịch vạn sự 2019 đã bị xé rách, 03 mảnh giấy có chữ viết, 02 dao lam đã qua sử dụng, 01 vỏ túi nilon được niêm phong trong phong bì ký hiệu: “M vụ Nguyễn Văn K”;

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 355345087641452; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 356739082360010; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng số IMEI: 359215079585239. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/6/2023 giữa Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Truy thu của bị cáo Phạm Văn C số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), truy thu của bị cáo Dương Văn H số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), truy thu của bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Án phí: Các bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn H, Nguyễn Văn K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại khoản 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ