vanban.org

Bản án 39/2021/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 21/12/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y, sửa Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N tỉnh Tuyên Quang như sau:

Xử buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông Lê Tất T số tiền 18.028.000 đồng (Mười tám triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng) được trừ số tiền bồi thường trước là 10.000.000 đồng. Ông Ma Văn Y còn phải bồi thường tiếp cho ông Lê Tất T 8.028.000 đồng (Tám triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Lê Tất T - Ma Văn Y"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y, sửa Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N tỉnh Tuyên Quang như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân s; Điều 357 Bộ luật Dân s
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39 /2021/DS -PT
Ngày 21/12/2021
V/v: “Kiện đòi bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Chương.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Hương, ông Nguyễn Đức Nam.

- Thư ký phiên toà: Bà La Thu Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hữu Tình - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân s thụ lý số 41/2021/TLDS - PT, ngày 04 tháng 11 năm 2021 về việc “Kiện đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 35/2021/QĐ-PT, ngày 19 tháng 11 năm 2021, giữa các đương s :

1. Nguyên đơn: Ông Lê Tất T, sinh năm 1976;

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;

Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ma Văn Y, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Ma Văn Y: Ông Đàm Quốc C - Luật sư Công ty luật TNHH - MTV C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tuyên Quang - Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị Tr, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang;

Vắng mặt tại phiên tòa.

4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Ma Văn Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Tất T trình bày:

Ngày 26/5/2018 tại gia đình bà Nguyễn Thị Th, Thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, ông bị ông Ma Văn Y đánh vào đầu làm ông bất tỉnh phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Y. Do vết thương quá nặng nên phải chuyển ngay xuống Bênh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang để điều trị. Bác sỹ kết luận bị chấn thương sọ não, ông phải điều trị khoa hồi sức cấp cứu 2 đến 3 ngày mới tỉnh, được gần chục ngày thì chuyển xuống HN kiểm tra chụp chiếu, sau đó về VP quê của ông nằm điều trị tại Phòng khám nội tổng hợp H, thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh VP. Điều trị khoảng 02 tuần thì ông về nhà ở xã Y. Khi ra viện về nhà ông chưa khỏi hẳn đầu vẫn bị choáng. Ngày 05/7/2018 vết thương ở đầu tái phát, nhiễm trùng, ông lại đến Bệnh viện Đa khoa khu v c Y khám và điều trị. Đến ngày 19/7/2018 ông đi khám lại và giám định.

S việc được Công an huyện N giải quyết. Về phần dân s ông Y nhận bồi thường cho ông 15.000.000 đồng. Ông nghĩ ông Y th c hiện theo cam kết nên ông không đề nghị Công an xử lý hình s ông Y, nhưng sau đó ông Y không th c hiện cam kết. Ông Y không hỏi thăm hay xin thoả thuận, th c hiện việc bồi thường; nên ông kiện yêu cầu ông Y bồi thường các khoản chi phí đi lại, khám cứu chữa vết thương, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, tiền tổn thất tinh thần và tiền công lao động bị mất của ông và người chăm sóc (vợ ông). Tổng các khoản bồi thường là 51.491.493 đồng. Tòa án nhân dân huyện N đã xử buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông số tiền 21.620.000 đồng, ông nhất trí như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, bị đơn ông Ma Văn Y trình bày:

Ông và ông Lê Tất T từ trước khi xảy ra s việc không có mâu thuẫn gì. Khoảng cuối tháng 5/2018, ông gặp ông Lê Tất T tại xưởng mộc nhà TT thuộc Thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Khi gặp ông T, ông đòi tiền trước đó ông T nợ của ông, nhưng ông T không trả, nên ông cầm chai nước đông đá trên bàn lên để tu uống. Ông T nói với ông như thế là mất lịch s . Ông và ông T có lời qua tiếng lại, ông b c tức cầm chai nước trên tay (chai nước loại 1,5 lít có đá đang tan chảy) đánh vào phần mặt của ông T, trúng vào đâu ông không nhớ rõ. Sau khi đánh ông thấy ông T ngồi thụt xuống đất. Ông được mọi người can thì ông đi về, còn ông T được người nhà đưa đi Bệnh viện cứu chữa. Ngay ngày hôm đó ông bảo vợ ông cùng đưa ông T đi Bệnh viện. Quá trình giải quyết vụ việc ngày 14/8/2018 hai bên thỏa thuận ông bồi thường cho ông T tổng số tiền l5.000.000 đồng, nhưng do ông không có tiền nên không bồi thường được cho ông T.

Nay ông T khởi kiện ông yêu cầu ông bồi thường, ông nhất trí bồi thường số tiền: Chi phí đi lại, khám chữa ở Bệnh viện Đa khoa khu v c Y và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; Chi bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho ông T là 1.000.000 đồng; Trả công bị mất của ông T và người chăm sóc là 1.800.000 đồng. Còn tiền đi điều trị ở tỉnh VP, tổn thất tinh thần thì ông không nhất trí. Khi ông T đi nằm viện ông có thăm bằng tiền là 500.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị Tr tại cấp sơ thẩm trình bày:

Năm 2018 chồng bà là ông Lê Tất T bị ông Ma Văn Y đánh vào đầu. Chồng bà phải đi bệnh viện cấp cứu, chữa vết thương. Bà đi chăm sóc ông T khi nằm viện. Sau khi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang cho ra viện, bà đưa ông T về Trung tâm Y tế huyện N để điều trị tiếp vì ông T vẫn còn choáng. Khi vào Trung tâm Y tế huyện N, bác sỹ khám và cho biết ở N không có thuốc gì tốt hơn thuốc đã dùng. Bác sỹ khuyên về dùng thuốc nam. Bà cho ông T nghỉ ở nhà trọ tại thị trấn N qua đêm, sáng hôm sau thì đưa chồng về quê chồng ở tỉnh VP điều trị, nghỉ dưỡng tại một Phòng khám tư nhân. Bà ở chăm sóc tiếp ông T khoảng 5, 6 ngày thì bà về nhà (ở xã Y, huyện N). Ông T ở điều trị tiếp khoảng 01 tuần thì ông T t đi xe khách về nhà. Nay ông T kiện ông Y đòi bồi thường thiệt hại về sức khoẻ trong đó có tiền công lao động bị mất của bà, bà nhất trí cho ông T hưởng khoản tiền này. Hiện nay, ông bà đã sống ly thân 03 năm nay, khoản tiền bồi thường công lao động bị mất của bà bà vẫn nhất trí cho ông T hưởng khoản tiền này.

Vụ án nêu trên đã được Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Tuyên Quang thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải nhưng không T và đã đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 235, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân s ; áp dụng các Điều 468, 584, 585, 586 và Điều 590 của Bộ luật Dân s ; điểm d, đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất T kiện yêu cầu ông Ma Văn Y bồi thường do xâm phạm về sức khỏe.

Buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông Lê Tất T số tiền 21.620.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền chi phí đi lại, khám, điều trị; Tiền mất thu nhập của ông T và người chăm sóc; Tiền bồi thường tổn thất tinh thần và tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe.

Ghi nhận ông Ma Văn Y đã bồi thường trước cho ông Lê Tất T 10.000.000 đồng. Ông Ma Văn Y còn phải bồi thường tiếp cho ông Lê Tất T 11.620.000 đồng (Mười một triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương s theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/9/2021 Tòa án nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y, đơn kháng cáo có nội dung: Không chấp nhận bồi thường do sức khỏe bị xâm hại cho ông Lê Tất T số tiền 21.620.000 đồng, theo Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N, với lý do: Số tiền bồi thường quá cao, ông Ychỉ chấp nhận bồi thường cho ông T số tiền điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Y, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang và tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Ma Văn Y giữ nguyên nội dung kháng cáo, ông xác định việc ông đánh vào đầu ông T là sai, nhưng những chi phí điều trị của ông T không rõ ràng, có hiện tượng khai khống và khoản chi phí ông phải bồi thường cho ông T quá cao. Vì vậy, ông đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện N về phần bồi thường, ông nhất trí bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Y trình bày luận cứ:

S việc xảy ra hai bên đã thỏa thuận về mức bồi thường là 15.000.000 đồng, cấp sơ thẩm buộc ông Y bồi thường khoản tiền điều trị tại Phòng khám nội tổng hợp H, thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh VP, không có chỉ định của bác sỹ, đơn thuốc do bác sỹ Triệu Quang H kê tổng số tiền 4.000.000 đồng không có tài liệu nào chứng minh ông T đã mua số thuốc trên; tiền mất thu nhập của người chăm sóc do thương tích nhẹ nên không cần có người chăm sóc, tổng cộng là 07 ngày nhưng cấp sơ thẩm tính 11 ngày; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe do thương tích nhẹ nên không được tính, số tiền cấp sơ thẩm buộc phải bồi thường không hợp lý là 9.882.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân s . Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y, sửa Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N như sau. Buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông Lê Tất T tổng số tiền là 11.738.000 đồng, được trừ số tiền ông Ma Văn Y đã bồi thường trước cho ông Lê Tất T 10.000.000 đồng. Ông Ma Văn Y còn phải bồi thường tiếp 1.738.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Lê Tất T, đề nghị giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện và nhất trí với bản án sơ thẩm.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân s trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã th c hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, s có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s . Các đương s th c hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân s . Đơn kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y là hợp lệ, trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Ngày 26/5/2018 tại gia đình bà Nguyễn Thị Th, Thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, ông Ma Văn Y đã dùng chai nước (loại chai 1,5 lít) có nước đóng đá vụt một phát vào phần đầu bên trái của ông Lê Tất T, ông T được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Y, đến chiều ngày 27/5/2018 thì chuyển lên điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang. Sau khi ra viện anh Thành đã giám định tổn hại phần trăm sức khỏe 01%.

Ngày 21/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định không khởi tố vụ án hình s . Ngày 05/4/2021 ông T có đơn khởi kiện yêu cầu ông Y bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại là 51.491.493 đồng.

Quá trình giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông Y phải bồi thường cho ông T các khoản chi phí thuốc men điều trị, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tổn thất tinh thần, mất thu nhập là 21.620.000 đồng, được khấu trừ số tiền ông Y đã bồi thường trước cho ông T 10.000.000 đồng. Ông Y còn phải bồi thường tiếp 11.620.000 đồng.

Ông Y kháng cáo cho rằng mức bồi thường quá cao, chỉ chấp nhận chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Y và Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang không nhất trí bồi thường các khoản chi phí điều trị tại VP.

Ngày 01/6/2018 ông T ra viện, tại hồ sơ Bệnh án ghi tình trạng sức khỏe bệnh nhân khi ra viện đã được bác sỹ xác nhận ổn định, không có chỉ định cho nghỉ hay phải điều trị thêm. Ngày 05/6/2018 ông T xuống khám tại Phòng khám nội tổng hợp H tại thôn V xã Đ, huyện L, tỉnh VP kết quả khám chẩn đoán: Viêm họng mãn tính, loạn cản họng, đồng thời ông T xuất trình đơn thuốc ngày 06/6/2018 do bác sỹ Triệu Quang H kê bao gồm 09 loại thuốc có giá 4.000.000 đồng. Xét thấy ông T t đi VP khám, điều trị không có giấy chuyển viện hay chỉ định của bác sỹ, kết quả khám chẩn đoán: Viêm họng mãn tính, loạn cản họng không liên quan đến chấn thương vùng đầu của ông T. Đơn thuốc ngày 06/6/2018 ông T xuất trình, qua xác minh tại Trạm y tế xác định là thuốc bổ não, là thuốc ông T t khám và t mua, hóa đơn thuốc không có dấu xác nhận của cơ quan chuyên môn nên không có cơ sở xem xét. Ông Y kháng cáo không chấp nhận việc điều trị của ông T tại Phòng khám H tại thôn V xã Đ, huyện L, tỉnh VP là có căn cứ cần được xem xét chấp nhận.

Ngày 05/7/2018 ông T vào Bệnh viện Đa khoa khu v c Y điều trị với chẩn đoán: Nhiễm trùng vết thương vùng chẩm, việc tái khám và điều trị của ông T được xác nhận của Bệnh viện đa khoa khu v c Y có hóa đơn, chứng từ điều trị nên có căn cứ chấp nhận chi phí điều trị này của ông T. Sau khi điều trị ông T th c hiện việc giám định thương tích theo Quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N cần chấp nhận khoản tiền này.

Quá trình điều trị ông T chuyển từ Bệnh viện đa khoa khu v c Y xuống Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang nên chấp nhận khoản tiền xe đi, về từ Bệnh viện đa khoa khu v c Y xuống Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang là 1.000.000 đồng.

Ông T t đi VP, HN khám không có giấy chuyển viện hay chỉ định của bác sỹ do đó không có căn cứ chấp nhận hóa đơn thuốc và tiền xe ô tô đi từ Tuyên Quang – HN và từ HN - VP của ông T.

Chi phí chụp CT tại HN ông T không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận. Số tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ ông T đề nghị 15.000.000 đồng là quá cao không phù hợp, cấp sơ thẩm xác định cả tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ và bồi thường tổn thất tinh thần là 02 tháng lương cơ bản 2.980.000 đồng là có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y, sửa Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N như sau. Buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông Lê Tất T tổng số tiền là 18.028.000 đồng, được khấu trừ số tiền ông Ma Văn Y đã bồi thường trước cho ông Lê Tất T 10.000.000 đồng. Ông Ma Văn Y còn phải bồi thường tiếp 8.028.000 đồng.

Về án phí dân s sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân s sơ thẩm cho ông Lê Tất T và ông Ma Văn Y.

Về án phí dân s phúc thẩm: Ông Ma Văn Y không phải chịu án phí dân s phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm, do đó đơn kháng cáo được công nhận là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình t phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của ông Ma Văn Y, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào kết quả điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Y huyện N; Kết luận giám định; Báo cáo kết thúc kiểm tra, xác minh tin báo tố giác tội phạm ngày 21/8/2018 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N, lời khai của các đương s thể hiện. Ngày 26/5/2018 tại gia đình bà Nguyễn Thị Th, Thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang, ông Ma Văn Y đã dùng chai nước (loại chai 1,5 lít) có nước đóng đá vụt một phát vào phần đầu bên trái của ông Lê Tất T, ông T được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Y, đến chiều ngày 27/5/2018 thì chuyển lên điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang, kết luận giám định ông Lê Tất T bị thiệt hại sức khỏe 01%.

Do lỗi hoàn toàn thuộc về ông Ma Văn Y, nên buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông Lê Tất T các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, mất thu nhập, tổn thất tinh thần,... bao gồm:

+ Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang:

- Tiền theo hoá đơn ngày 27/5/2018:

575.000 đồng;

- Tiền thuốc theo đơn ngày 27/5/2018:

26.000 đồng;

- Tiền thuốc theo đơn ngày 29/5/2018:

800.000 đồng;

- Tiền theo hoá đơn ngày 01/6/2018:

4.128.934 đồng;

- Tiền theo hoá đơn ngày 19/7/2018:

69.600 đồng;

+ Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Y sau khi ra viện:

- Tiền theo hoá đơn ngày 05/7/2018:

29.000 đồng;

- Tiền theo hoá đơn ngày 13/8/2018 (Đã bao gồm tiền

xe ô tô cấp cứu từ Y đi Tuyên Quang:

1.745.559 đồng;

- Tiền thuốc theo đơn ngày 05/7/2018

của Bệnh viện đa khoa khu v c Y:

64.000 đồng;

+ Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 02 tháng lương cơ bản = 2.980.000 đồng;

+ Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 02 tháng lương cơ bản = 2.980.000 đồng;

+ Tiền mất thu nhập của ông T, mức thu nhập 180.000đ/ngày x 11 ngày nằm viện = 1.980.000 đồng.

+ Tiền mất thu nhập của người chăm sóc, mức thu nhập 150.000đ/ngày x 11 ngày = 1.650.000 đồng.

+ Tiền xe đi lại từ N về Tuyên Quang 2 lượt: 1.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền là 18.028.000 đồng.

Đối với khoản tiền chi phí do ông Lê Tất T xuống khám tại Phòng khám nội tổng hợp H tại thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh VP kết quả khám chẩn đoán: Viêm họng mãn tính, loạn cản họng, đồng thời ông T xuất trình đơn thuốc ngày 06/6/2018 do ông Triệu Quang H kê bao gồm 09 loại thuốc có giá 4.000.000 đồng. Xét thấy ông T t đi VP khám, điều trị không có giấy chuyển viện hay chỉ định của bác sỹ, kết quả khám chẩn đoán: Viêm họng mãn tính, loạn cản họng không liên quan đến chấn thương vùng đầu của ông T. Đơn thuốc ngày 06/6/2018 ông T xuất trình, qua xác minh tại Trạm y tế xác định là thuốc bổ não, là thuốc ông T t khám và t mua, hóa đơn thuốc không có dấu xác nhận của cơ quan chuyên môn nên không có cơ sở xem xét. Do vậy chấp nhận một phần kháng cáo của ông Ma Văn Y sửa Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N tỉnh Tuyên Quang; xử buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông Lê Tất T số tiền 18.028.000 đồng là phù hợp pháp luật.

Về án phí dân s sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân s sơ thẩm cho ông Lê Tất T và ông Ma Văn Y.

Về án phí dân s phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận, nên ông Ma Văn Y không phải chịu án phí dân s phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân s ; các Điều 584, 585, 586, 590 và Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Ma Văn Y, sửa Bản án dân s sơ thẩm số 12/2021/DS-ST, ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện N tỉnh Tuyên Quang như sau:

1. Xử buộc ông Ma Văn Y phải bồi thường cho ông Lê Tất T số tiền 18.028.000 đồng (Mười tám triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng) được trừ số tiền bồi thường trước là 10.000.000 đồng. Ông Ma Văn Y còn phải bồi thường tiếp cho ông Lê Tất T 8.028.000 đồng (Tám triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Khoản tiền bồi thường, kể từ khi bản án có hiệu l c pháp luật và ông Lê Tất T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng ông Ma Văn Y còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015.

2. Về án phí dân s sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân s sơ thẩm cho ông Lê Tất T và ông Ma Văn Y.

3. Về án phí dân s phúc thẩm: Ông Ma Văn Y không phải chịu án phí dân s phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu l c kể từ ngày tuyên án, ngày 21/12/2021.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ