- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bùi Văn H tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” Trần Văn S"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 284/2018/DS-PT Ngày 23/8/2018 V/v tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn.
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thu Hằng.
Bà Võ Thị Thu Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và 23 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2018/TLPT-DS ngày 03/7/2018 về tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 75/2018/DSST ngày 07/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 199/2018/QĐ-PT ngày 10/7/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bùi Văn H, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Tạm trú: Ấp h, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Trần Văn S, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: ấp h, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh S: Luật sư Nguyễn Thị Kim L – Văn phòng luật sư Kim L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
3. Người kháng cáo: Bị đơn Trần Văn S.
4. Kháng nghị: Quyết định kháng nghị số 235/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
* Nguyên đơn anh Bùi Văn H trình bày:
Anh là anh vợ của anh Trần Văn S, hai bên có mâu thuẫn với nhau. Ngày 03/12/2016 hai bên có cự cải, anh S dùng chân đạp vào vai bên trái của anh làm gãy xương. Khi sự việc xảy ra anh có yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C xử lý hình sự. Sau đó kết quả giám định thương tật của anh là 9%, không đủ yếu tố xử lý hình sự nên hướng dẫn anh khởi kiện dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh H yêu cầu anh S bồi thường tiền thuốc, tiền xe là 5.130.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng; tiền công lao động: 120 ngày x 200.000 đồng/ngày = 24.000.000 đồng, không yêu cầu tiền công người nuôi bệnh. Nay anh yêu cầu anh S bồi thường cho anh số tiền nêu trên.
*Bị đơn anh Trần Văn S trình bày:
Ngày 03/12/2016 anh Bùi Văn H là anh vợ có cự cải, đánh vợ anh nên anh có xô anh H ngã và dùng chân đạp vào vai trái của anh H gây thương tích. Nay theo yêu cầu của anh H anh không đồng ý bồi thường, lý do anh H có lỗi trước. Anh S đồng ý bồi thường tiền thuốc, tiền xe là 5.130.000 đồng, các khoản còn lại không đồng ý.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2018/DSST ngày 07/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện C đã áp dụng vào các Điều 584, 585, 588, 590, 468, 688 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn H.
Buộc bị đơn anh Trần Văn S bồi thường cho anh Bùi Văn H số tiền 39.130.000 đồng.
Kể từ ngày anh H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh S chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải trả lãi theo quy định của pháp luật đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Về án phí: Anh S phải chịu 1.956.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 14/5/2018, bị đơn Trần Văn S có đơn kháng cáo không đồng ý bồi thường cho anh S số tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng, không đồng ý bồi thường tiền công lao động 120 ngày x 200.000 đồng = 24.000.000 đồng vì ông H là người không có nghề nghiệp, không có bảng lương thu nhập ổn định.
* Ngày 21/5/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện C có Quyết định kháng nghị số 235/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/5/2018 yêu cầu sửa án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 235/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chỉ chấp nhận bồi thường tiền thuốc, tiền 09 ngày công lao động và 1 tháng lương cơ bản về tổn thất tinh thần.
- Anh S trình bày không đồng ý bồi thường cho anh H 10.000.000 đồng tiền thiệt hại tổn thất tinh thần và 24.000.000 đồng tiền ngày công lao động, vì ông H là người không có nghề nghiệp, không có bảng lương thu nhập ổn định.
- Anh H không đồng ý kháng cáo của anh S, đề nghị giữ nguyên như quyết định án sơ thẩm.
* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày và phát biểu tranh luận: Anh H yêu cầu anh S bồi thường tiền công lao động và tiền tổn thất tinh thần là không có cơ sở. Bởi vì, kết luận giám định trên cơ sở vết thương cũ chứ không phải vết thương mới do anh S gây ra; Anh H có đánh vợ anh S, nên anh S xót thương và có đánh lại anh H là cũng phần lỗi của anh H; Anh H bị đánh chỉ điều trị bệnh 1 ngày, anh H cũng không có nghề nghiệp công việc ổn định. Anh H không phải nghề sửa xe mà chỉ phụ con anh H, tiệm sửa xe mang tên con anh H là B. Anh H bị chấn thương tay trái nên tay phải vẫn lao động được. Nếu thiệt hại về tinh thần thì anh S mới là người bị thiệt hại. Do đó, anh S không đồng ý bồi thường tiền công lao động và tiền tổn thất tinh thần cho anh H. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh S, sửa bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Kể từ ngày thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Án sơ thẩm buộc phía anh S bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh H là có căn cứ. Tuy nhiên, án sơ thẩm buộc anh S phải đền bù số tiền 10.000.000 đồng tổn thất tinh thần là không phù hợp, vì sau khi bị thương tích anh H vẫn sinh hoạt và điều trị tại nhà trong thời gian ngắn, hành vi của anh S thực tế không gây ra thiệt hại tinh thần cho anh H. Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án không có chứng cứ chứng minh việc do bị anh S gây thương tích nên anh H không lao động được trong thời gian 120 ngày, án sơ thẩm buộc anh S bồi thường cho anh H số tiền 24.000.000 đồng, cũng không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, chấp nhận một phần kháng cáo của anh S, sửa án sơ thẩm theo hướng chỉ chấp nhận bồi thường tiền thuốc, tiền 09 ngày công lao động và 1 tháng lương cơ bản về tổn thất tinh thần.
Qua nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ, nghe các đương sự trình bày trước tòa, và quan điểm của Kiểm sát viên, qua kết quả tranh tụng tại tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh H khởi kiện yêu cầu anh S bồi thường cho anh số tiền 39.130.000 đồng, bao gồm tiền thuốc 5.130.000 đồng, 10.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thất tinh thần, 24.000.000 đồng tiền công lao động bị mất. Phía anh S thừa nhận có gây ra thiệt hại về sức khỏe cho anh H, nhưng chỉ đồng ý bồi thường số tiền 5.130.000 đồng thiền thuốc chữa bệnh. Án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, buộc anh S bồi thường cho anh H số tiền 39.130.000 đồng. Sau khi án sơ thẩm xử, Viện kiểm sát nhân dân huyện C có kháng nghị yêu cầu xem xét lại số tiền công lao động bị mất và tiền tổn thất tinh thần. Phía anh S kháng cáo chỉ đồng ý bồi thường số tiền thuốc là 5.130.000 đồng.
Xét kháng cáo của bị đơn Trần Văn S về việc không đồng ý bồi thường tiền công lao động, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh S thừa nhận gây ra thiệt hại sức khỏe cho anh H, nhưng không đồng ý bồi thường cho anh H tiền công lao động bị mất là 24.000.000 đồng vì cho rằng anh H là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định. Xét thấy, anh H làm nghề sửa xe, không có thu nhập ổn định hàng tháng, nhưng căn cứ vào mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương, án sơ thẩm xác định số tiền công lao động bị mất của anh H là 200.000 đồng/ngày là có căn cứ. Ngày 03/12/2016 anh S gây ra thiệt hại cho anh H, đến ngày 04/12/2016 anh H đến khám bệnh chụp X Quang tại bệnh viện quân y 121 (bút lục 02 - 03) được chỉ định nhập viện nhưng không nhập viện, từ ngày 04/12/2016 đến ngày 22/12/2016 anh H liên tục đến bệnh viện đa khoa V, bệnh viện 121, bệnh viện đa khoa Tiền Giang khám và được bệnh viện chẩn đoán trật và đau khớp vai trái và chỉ định thuốc điều trị bệnh (bút lục 04 –23). Như vậy, tuy anh H không nhập viện điều trị nhưng căn cứ vào chứng từ của bệnh viện có thể thấy việc anh H bị trật và đau khóp vai trái làm ảnh hưởng tới sức khỏe và công việc là có thật. Để đảm bảo quyền lợi cho anh H một cách hợp lý, xác định số ngày công lao động của anh H bị mất bao gồm thời gian điều trị và thời gian phục hồi là 90 ngày, tương đương 90 ngày x 200.000 đồng = 18.000.000 đồng.
Xét kháng cáo của anh S không đồng ý bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần về số tiền 10.000.000 đồng. Căn cứ, theo qui định tại điểm 1.5 mục II Nghị quyết 03/2016/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 quy định “Trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần”. Tuy nhiên, do anh H cũng có lỗi trong sự việc này, hai bên đánh nhau mới có thương tích nên xác định số tiền tổn thất tinh thần cho anh với mức 3 tháng lương tối thiểu là phù hợp, tương đương 1.390.000 đồng x 3tháng = 4.170.000 đồng.
Như đã phân tích ở trên, xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện C và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Văn S, sửa bản án sơ thẩm.
Ý kiến của Luật sư phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 604, 605, 606, 607, 609 của Bộ luật Dân sự 2005;
Căn cứ Nghị quyết 03/2016/NQ-HDDTP ngày 08 tháng 7 năm 2006;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Văn S.
Chấp nhận một phần kháng nghị số 235/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C.
Sửa Bản án sơ thẩm số: 75/2018/DS-ST ngày 07/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện C.
- Phần tuyên xử:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn H.
Buộc bị đơn anh Trần Văn S bồi thường thiệt hại cho anh Bùi Văn H số tiền 27.300.000 đồng (trong đó tiền xe, thuốc điều trị số tiền 5.130.000 đồng, tiền công lao động số tiền 18.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần số tiền 4.170.000 đồng).
Kể từ ngày anh H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh S chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải trả lãi theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí:
- Anh S phải chịu 1.365.208 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 08677 ngày 14/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Các phần khác của bản án không có kháng cáo kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Án tuyên vào lúc 08 giờ 30 phút có mặt anh H, vắng mặt anh S.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện C; - THADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. DSPT-2018L | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Toàn |