- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng G - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b Khoản 3 Điều 251 BLHS; Điểm s Khoản 1; Khoản 2 điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng G.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 250/2023/HS-ST Ngày: 17/10/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hương
2. Ông Lê Hữu Tới
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Tiến – Kiểm sát viên
Vào hồi 08 giờ ngày 17 tháng 10 năm 2023, tại phòng xét xử án hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Thanh hóa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2023/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2023/QĐXXST-HS Ngày 10/9/2023 Quyết định hoãn phiên tòa số: 140/2023/HSST-QĐ ngày 25/9/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng G - Sinh năm 1977 tại huyện HH, tỉnh Thanh Hóa. Nơi thường trú: Thôn Đông Th, xã Hoằng X, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Trọng H (đã chết) và bà Trần Thị Nh, Sinh năm 1943; Có vợ là: Vũ Thị L, Sinh năm 1983; có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2022 đến ngày 26/12/2022 chuyển tạm giam. Hiện nay bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Thanh là Luật sư Dương Xuân T – Văn phòng luật sư H C, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07h15’ ngày 17/12/2022, tổ công tác Công an huyện HH làm nhiệm vụ tại phố HL, thị trấn BS, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1983 ở thôn HV, xã HĐ, huyện HH có biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Ngọc Th đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 sim điện thoại số 0969.978.400. Th khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá Th mua của Nguyễn Trọng G để sử dụng (BL 01-02).
Căn cứ lời khai của Nguyễn Ngọc Th, Cơ quan điều tra Công an huyện HH tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trọng G ở thôn ĐT, xã HX, huyện HH thu giữ: 01 túi nilon màu tím than kích thước khoảng (6.5x9) cm bên trong có 285 (hai trăm tám năm) viên nén màu hồng; 02 (hai) túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 08 (tám) túi nilon màu trắng, kích thước mỗi túi khoảng (2x2) cm bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; số tiền 3.544.000đ (ba triệu năm trăm bốn bốn nghìn đồng); 01 điện thoại di động OPPO màu xanh và 01 điện thoại di động Masstel màu đen (BL: 37-38).
Ngày 20/12/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành phong tỏa số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) trong tài khoản số 101873667216 ngân hàng Viettinbank chi nhánh Thanh Hóa của Nguyễn Trọng G để phục vụ điều tra (BL: 162-163)
Tại bản Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 22/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc Thcó tổng khối lượng 0,069g (không phẩy không sáu chín gam) loại là ma túy, loại Methamphetamine (BL: 27).
Tại Bản Kết luận giám định số 89/KL-KTHS ngày 22/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận về tang vật thu giữ của Nguyễn Trọng G là:
- 285 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 27,255g (hai bảy phẩy hai năm năm gam) là ma túy loại Methamphetamine;
- Chất tinh thể màu trắng chứa trong 02 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 6,246g (sáu phẩy hai bốn sáu gam) là ma túy loại Methamphetamine;
- Chất tinh thể màu trắng chứa trong 08 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 1,575g (một phẩy năm bảy năm gam) là ma túy loại Methamphetamine (BL:31).
Quá trình điều tra bị can khai nhận:
Ngày 28/11/2022, Nguyễn Trọng G gọi điện thoại cho Trịnh Ngọc Thức, sinh năm 1977 là người cùng xã HX, huyện HH, hiện Thức đang ở huyện Thanh Trì, TP Hà Nội để hỏi ma túy hồng phiến thì Thức bảo G bắt xe khách ra đến trạm thu phí Pháp Vân, TP Hà Nội, gọi điện Thức sẽ ra đón. G đồng ý, một mình bắt xe khách ra Hà Nội, đến trạm thu phí Pháp Vân thì xuống xe rồi gọi điện cho Thức. Một lúc sau Thức đi xe máy ra đón G đi vào đường nhỏ bên hông đường cao tốc, cách trạm thu phí khoảng 500m thì dừng xe và đưa cho G 01 túi nilon màu đen bên trong có ma túy hồng phiến. Mua được ma túy, G đi bộ ra đường cao tốc rồi bắt xe khách về Thanh Hóa. Khi về đến nhà, G gọi điện báo cho Thức biết và Thức nói cho G biết trong túi có 350 viên ma túy hồng phiến giá là 12.000.000đ (mười hai triệu đồng). Thức nói G khi nào bán được thì chuyển tiền cho Thức. Mục đích G mua số ma túy trên để sử dụng và bán kiếm lời. Đến ngày 13/12/2023, G gọi điện cho Thức nói hồng phiến không ai mua, chỉ có khách hỏi mua ma túy đá nên G hỏi Thức cho ma túy đá không thì bán cho G. Thức đồng ý bán và hẹn G ra trạm thu phí Pháp Vân để lấy ma túy. G lại một mình bắt xe khách ra Hà Nội và mua được của Thức 01 gói ma túy đá với giá là 13.000.000đ. Khi về đến nhà, G chia nhỏ số ma túy đá vừa mua được thành nhiều túi nhỏ và cất giấu trong nhà để sử dụng và bán kiếm lời. Nguyễn Trọng G đã bán ma túy 03 lần cụ thể:
Khoảng 13h ngày 16/12/2022, Nguyễn Ngọc Th gọi điện thoại cho Nguyễn Trọng G để hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá để sử dụng. G đồng ý và bảo Th đến nhà G để lấy ma túy. Khoảng 14h30’ cùng ngày, Th tiếp tục mua của G 01 túi ma túy đã với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma túy, Th đem về nhà sử dụng một ít, số còn lại Th cất giấu trong người khi nào có nhu cầu thì sử dụng.
Khoảng 12h ngày 16/12/2022, Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1989 ở thôn PK, xã HL, huyện HH gọi điện cho Nguyễn Trọng G để mua 500.000đ ma túy đá. G đồng ý và hẹn Nhân đến nhà để lấy ma túy. Sau khi mua được ma túy, Nh đã sử dụng hết.
Đến khoảng 07h50’ ngày 17/12/2022, Nguyễn Ngọc Th đem theo ma túy mua của G đang đi bộ ở khu vực chợ BS thuộc phố HL, thị trấn BS, huyện HH thị bị Công an huyện HH phát hiện (BL: 76-102; 116-120; 129-131).
* Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ số vật chứng của vụ án gồm: số ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong, 01 điện thoại di động OPPO màu xanh; 01 điện thoại di động Masstel màu đen; 01 sim điện thoại và số tiền 3.544.000đ, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 5.000.000đ trong tài khoản số 101873667216 ngân hàng Viettinbank chi nhánh Thanh Hóa của Nguyễn Trọng G, Cơ quan điều tra tiếp tục phong tỏa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 77/CT- VKS-P1 ngày 29 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Trọng G về Tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 3 Điều 251 của BLHS. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm tuy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng G từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2022.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 1.500.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Ngọc Thvà Nguyễn Văn Nhân (ngày 16/12/2022); 01 điện thoại di động OPPO màu xanh; 01 điện thoại di động Masstel màu đen là phương tiện để bị cáo liên hệ, giao dịch mua bán ma túy.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo số tiền 2.044.000đ sau khi trừ đi số tiền phải tịch thu (1.500.000) và 5.000.000đ đang phong tỏa trong tài khoản số 101873667216 ngân hàng Viettinbank chi nhánh Thanh Hóa của Nguyễn Trọng G
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố và không tranh luận với kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Dương Xuân T, Luật sư văn phòng LS HC thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng G: Đồng ý với nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố về tội danh của bị cáo, Luật sư phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo , cũng như căn cứ vào các tình tiế t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xé t xử , xử phạt bị cáo thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 17/12/2022, tại nhà riêng của Nguyễn Trọng G ở thôn Đông Thôn xã HX, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HH đã khám xét và thu giữ của Nguyễn Trọng G 35,076g (ba năm phẩy không bảy sau gam) ma túy loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để bán kiếm lời. Ngoài ra, bị cáo G khai nhận vào ngày 16/12/2022 G đã bán trái phép ma túy 02 lần cho Nguyễn Ngọc Th và 01 lần cho Nguyễn Văn Nh, mỗi lần bán ma túy được 500.000đ.
Số ma túy Nhân mua đã sử dụng hết nên không thu được, Cơ quan điều tra chỉ thu được số ma túy còn lại của Th là 0,069g ma túy loại Methamphetamine. Do đó, G phải chịu trách nhiệm hình sự về số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ của Th và thu giữ tại nhà riêng. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Trọng G phải chịu trách nhiệm trong vụ án này là 35,145g (ba năm phẩy một bốn năm gam) Metham phetamine.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiệm trọng, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
b, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo: Nguyễn Trọng G về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 BLHS là có cơ sở, đúng qui đinh của pháp luật.
* Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Qua lời trình bầy của bị cáo tại phiên toà hôm nay thể hiện bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc mua bán, trái phép chất ma tuý là một việc làm bị pháp luật ngăn cấm, bị cáo cũng nhận thức được hậu quả nguy hiểm đối với cơ thể con người do sử dụng ma tuý trái phép mang lại, cũng như tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội, gây mất trật tự, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và là nguy cơ tiềm ẩn phát sinh ra những tệ nạn xã hội, những hành vi trái pháp luật cũng từ ma túy mà phát sinh. Nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo đã bất chấp pháp luật bất chấp đến những hệ lụy mà ma túy mang lại, mua đi bán lại kiếm lời. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi áp dụng mức hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng trong vụ án này bị cáo đã 03 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện là Nguyễn Văn Nh và Nguyễn Ngọc Th vào ngày 16/12/2022. Đây là tình tiết tăng nặng TNHS phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 của BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại phiên tòa hôm nay cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo đều thật thà khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; Bên cạnh đó, bị cáo G có bố, mẹ là ông Nguyễn Trọng H, bà Trần Thị Nh được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì; Bản thân bị cáo cũng từng tham gia quân đội, hoàn cảnh gia đình hiện tại hết sức khó khăn, vợ bị cáo bỏ nhà đi từ lâu không tin tức, giờ bị cáo vừa nuôi hai con, vừa chăm sóc mẹ già và anh trai bị bại liệt đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, do vậy khi lượng hình phạt HĐXX có thể xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251BLHS quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua việc thẩm vấn tại phiên toà hôm nay. Bị cáo khai báo nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, vừa một mình nuôi hai con trong độ tuổi ăn học, vừa chăm sóc nuôi dưỡng mẹ già thường hay đau ốm và chăm sóc anh trai bị bại liệt có chứng nhận, xác nhận của chính quyền địa phương nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự 2015. điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước 1.500.000đ tiền bán ma túy cho Th và Nhân là tiền thu lợi bất chính, 01 điện thoại di động OPPO màu xanh; 01 điện thoại di động Masstel màu đen không kiểm tra chất lượng máy bên trong là phương tiện để bị giao dịch mua bán ma túy, là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu xung công quỹ Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Thanh 2.044.000đ (số tiền còn lại sau khi trừ 1.500.000đ tiền thu lợi bất chính, hiện đang lưu trữ tại tài khoản tạm gửi của Cục THADS tỉnh Thanh Hóa mở tại Kho bạc Nhà Nước tỉnh Thanh Hóa) và 5.000.000đ trong tài khoản số 101873667216 ngân hàng Viettinbank chi nhánh Thanh Hóa mang tên Nguyễn Trọng G đây là số tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với vật phẩm Ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa phát hành được dán kín niêm phong, mặt trước phong bì có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh Tiến, Nguyễn Trần Đăng, Bùi văn Hà và các hình dấu tròn đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6; khoản 1, 3 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điểm b Khoản 3 Điều 251 BLHS; Điểm s Khoản 1; Khoản 2 điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng G.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng G 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tình từ ngày tạm giữ 17/12/2022.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự 2015. Điểm a, b khoản 2; Điểm a Khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước 1.500.000đ tiền thu lợi bất chính do mua bán ma tuý mà có; 01 điện thoại di động OPPO màu xanh; 01 điện thoại di động Masstel màu đen, nắp sau bị vỡ, không kiểm tra chất lượng máy bên trong bị cáo dùng để giao dịch mua bán ma túy, là công cụ, phương tiện phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy: Số vật phẩm Ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong: 01 phong bì được dán niêm phong, mặt trước ghi “ Nguyễn Trọng G”, mặt sau có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Nguyễn Bá Hoàng và các hình dấu tròn đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa. (Phong bì do Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, kèm theo KLGĐ số 88/KL-KTHS ngày 22/12/2022); 01 phong bì được dán niêm phong, mặt trước ghi “ Nguyễn Ngọc Th”, mặt sau có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Nguyễn Bá Hoàng và các hình dấu tròn đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa. (Phong bì do Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, kèm theo KLGĐ số 89/KL-KTHS ngày 22/12/2022)
Trả lại cho bị cáo G 2.044.000đ (số tiền còn lại sau khi đã trừ 1.500.000đ tiền thu lợi bất chính) và 5.000.000đ trong tài khoản số 101873667216 ngân hàng Viettinbank chi nhánh Thanh Hóa mang tên Nguyễn Trọng G đây là số tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.
Toàn bộ vật chứng và tiền đang được thu giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng Số: 203/TV-CTHADS ngày 29/8/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa; Số tiền đang lưu trữ tại tài khoản của Cục THADS tỉnh Thanh Hóa mở tại Kho bạc Nhà Nước tỉnh Thanh Hóa theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 01 ngày 29/8/2023 của Phòng PC04 Công an tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6; khoản 1,3 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp Cao tại Hà Nội - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND cấp cao Hà Nội; - Sở tư pháp Thanh Hóa - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quân |