vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 04/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

1. Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 251, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2022; 2. Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 251; điểm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Ph và Trần Trí T bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày: 04-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Đông

Bà Nguyễn Thu Anh

Ông Dương Văn Sol

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Quách Xía Muội - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Văn Ph (tên gọi khác là Cu Đ), sinh năm 1994; nơi đăng ký thường trú: Ấp 13, xã Kh, huyện U, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở khác: Khóm M, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Chạy xe honda khách; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H và bà Lý Thị Ph1; vợ tên Bùi Bé Ng và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022; bị tạm giam từ ngày 29/01/2022 đến nay. Bị cáo có mặt.

2. Trần Trí T, sinh năm 1994; nơi đăng ký thường trú: Số 139 A đường Tr, khóm N, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở khác: Khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th và bà Trần Thị Ánh T1; vợ tên Nguyễn Mai D (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022; bị tạm giam từ ngày 29/01/2022. Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Ph: Luật sư Đặng Minh Hải của Văn phòng Luật sư Minh Hải thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Trần Đức Tiến của Văn phòng Luật sư Trần Đức Tiến thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 40 phút, ngày 20/01/2022, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an phường 8, thành phố Cà Mau tiến hành kiểm tra tiệm sửa xe mô tô T tại khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau do Trần Trí T làm chủ. Tại thời điểm kiểm tra có mặt T và Huỳnh Văn Ph đang ở trong tiệm. Lực lượng tiến hành kiểm tra thì phát hiện tại kệ úp chén bằng nhựa đặt ở vị trí khu vực nấu ăn của tiệm sửa xe có để một cái bọc nilon màu hồng, bên trong 05 bọc nilon màu trắng, có 02 bọc nilon màu trắng bên trong mỗi bọc có chứa 40 viên nén màu hồng và 03 bọc nilon màu trắng bên trong mỗi bọc có chứa chất tinh thể màu trắng (tất cả đều nghi là ma túy). Lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành thu giữ và đưa 05 bọc nolon vào bên trong một túi niêm phong ký hiệu PS3 mã số: PS3A086043, có chữ ký, ghi rõ họ tên Trần Trí T, Huỳnh Văn Ph, Hồ Thạch K, Lê Thanh T, Lê Quốc V và ba dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường 8, thành phố Cà Mau, ký hiệu M.06/2022.

* Ngoài ra, trong quá trình kiểm tra còn thu giữ:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen có sim số 0948.166.424, 01 điện thoại di động dạng Iphone màu vàng có sim số 0825.539.979 của Trần Trí T.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có sim số 0845.952.952, 0856.218.730, 01 điện thoại di động dạng Iphone có sim số 0942.231.324; tiền Việt Nam là 1.600.000 đồng của Huỳnh Văn Ph.

+ Thu giữ 01 thẻ nhớ trong Camera tại tiệm sửa xe T.

+ 01 thùng giấy carton, bên ngoài thùng giấy có dán phiếu giao hàng và dán thêm 01 tờ giấy trắng, trên tờ giấy trắng có ghi Hảo (0927.789.999) gửi Thảo (0768.256.880); 02 lon sữa màu xanh, có dòng chữ Aptamil; 01 cây cân tiểu li màu bạc và nhiều bọc ni lon nhỏ màu trắng chưa qua sử dụng.

* Kết quả khám xét nơi ở của Huỳnh Văn Ph tại phòng số 5, Nhà trọ thuê tháng Thành Phát, thuộc khóm 6, phường 5, thành phố Cà Mau vào lúc 11 giờ 10 phút ngày 20/01/2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã thu giữ: 11 chìa khóa phòng và 01 cuốn tập học sinh.

* Kết quả kiểm tra thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy đối với Huỳnh Văn Ph lúc 11 giờ 50 phút, ngày 20/01/2022 và đối với Trần Trí T lúc 13 giờ 10 phút ngày 20/01/2022, kết quả cho thấy Huỳnh Văn Ph có sử dụng ma túy loại Methamphetamin, MDMA, Ketamine; Trần Trí T có sử dụng ma túy loại MDMA.

* Tại Bản Kết luận giám định số 21/GĐH-PC09 ngày 24/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

- 80 viên nén màu hồng bên trong bọc nilon thứ nhất và bọc nilon thứ hai được niêm phong kín trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3A 086043, ký hiệu M.06/2022, thu giữ vào ngày 20/01/2022 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 41,7938 gam, loại MDMA.

- Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon thứ ba, bọc nilon thứ tư và bọc nilon thứ năm được niêm phong kín trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3A 086043, ký hiệu M.06/2022, thu giữ vào ngày 20/01/2022 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 239,67 gam, loại Ketamine.

* Quá trình điều tra, Trần Trí T khai nhận:

Vào khoảng 07 giờ ngày 20/01/2022, Huỳnh Văn Ph đến tiệm sửa xe mô tô của T nói cho T biết một lát có Trịnh Công T2 chạy shipper đến giao ma túy cho Ph và T. Đến khoảng hơn 07 giờ 30 phút cùng ngày, T2 điều khiển xe chở một thùng giấy carton, phía bên ngoài có dán giấy giao hàng và dán thêm một tờ giấy trắng, trên tờ giấy trắng có ghi Hảo (0927789999) gửi Thảo (0768256880). T2 giao nguyên thùng giấy carton cho Ph. Ph nhận và trả tiền cho T2, sau đó T2 đi đâu không rõ.

Ph cùng với T mở thùng giấy carton ra, thấy bên trong thùng có chứa hai hộp sữa bằng thiếc màu xanh, có dòng chữ Aptamin. Ph lấy ra một hộp sữa và dùng kéo khui hộp sữa lấy ra hai bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi bọc đều có chứa nhiều viên thuốc lắc màu hồng. Khi Ph khui hộp sữa thứ hai thì T không có mặt tại đó, sau đó T và Ph ra phía trước tiệm sửa xe uống cà phê và ăn sáng. Tại đây, Ph nói cho T biết ma túy trong hộp sữa thứ hai là loại ma túy khây. Khi cả hai đang ngồi thì bị lực lượng Công an ập đến kiểm tra và phát hiện thu giữ trên kệ úp chén bằng nhựa đặt tại vị trí bếp nấu ăn của tiệm sửa xe gồm 05 bọc nilon màu trắng, trong đó có 02 bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi bọc có chứa 40 viên nén màu hồng, còn 03 bọc nilon màu trắng còn lại, bên trong mỗi bọc đều có chứa ma túy khây.

Mục đích Ph mang ma túy đến cất giấu tại tiệm sửa xe của T là để cùng T bán lại cho người khác, ngoài ra không có mục đích gì khác. Nguồn gốc ma túy từ đâu Ph có thì T không biết, chỉ biết số ma túy này là do T2 mang đến. Ngoài ra, T còn tham gia mua bán ma túy với Ph một lần vào khoảng hơn 04 giờ sáng ngày 19/01/2022, Ph điện thoại kêu T ra kệ tủ trưng bày bán nhớt lấy bịch ma túy khây mà Ph đã cất giấu sẵn rồi đón Mai Văn Đảo chạy xe taxi đến giao. T lấy bịch ma túy giao cho một thanh niên chạy xe taxi nhưng không có nhận tiền. Đến buổi trưa cùng ngày, Ph đến cho T 200.000 đồng tiền công đã giao ma túy. Cây cân tiểu li và nhiều bọc ni lon nhỏ màu trắng là của Ph đem đến để phân chia ma túy ra bán lại.

Quá trình điều tra Huỳnh Văn Ph hoàn toàn không thừa nhận hành vi phạm tội.

- Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS-P1 ngày 15 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố Ph và T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:

+ Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 20 năm tù; Đề nghị áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo từ 15 đến 16 năm tù;

+ Về xử lý vật chứng: Các vật chứng là vật cấm và vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy, gồm: Mẫu vật hoàn lại sau giám định, cân tiểu ly và 11 chìa khóa; Các vật chứng liên quan đến giao dịch có giá trị cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, gồm: 04 điện thoại di động, 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo T; Trả lại cho bị cáo Ph 1,6 triệu đồng

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Ph trình bày: Việc điều tra, thu thập chứng cứ cũng như xét hỏi tại phiên tòa còn một số vấn đề chưa được làm rõ, chưa đủ chứng cứ xác định Ph mua bán trái phép chất ma túy, gồm: Ph đặt mua sữa từ vợ chồng Tuấn A nhưng chưa xác định được vợ chồng Tuấn A là ai; người giam chung với T còn có S cũng như người giam chung với Ph còn có Â, nhưng chưa lấy lời khai của hai người này; chưa cho đối chất giữa Nh, Đ với Ph…Do đó, đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo T trình bày: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ do vợ chồng bị cáo đã ly hôn.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Ph: Thừa nhận vào sáng ngày 20/01/2022, Ph có gọi điện cho T2 đến tiệm xe Ng Ánh để nhận thùng giấy có chứa sữa do Ph đặt mua trước đó. Khi T2 đem thùng giấy đến tiệm xe của T, thì Ph có khui thùng giấy và khui 02 hộp sữa phát hiện bên trong hộp sữa là sữa giả và gạo, ngoài ra trong hộp sữa không còn gì khác. Khi khui hộp sữa có mặt T. Bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, không biết khối lượng ma túy thu giữ tại tiệm sửa xe của T ở đâu có.

- Lời nói sau cùng của bị cáo T: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa:

Bị cáo T thừa nhận:

Vào khoảng 07 giờ ngày 20/01/2022, Huỳnh Văn Ph đến tiệm sửa xe mô tô của T nói cho T biết một lát có Trịnh Công T2 chạy shipper đến giao ma túy cho Ph và T. Đến khoảng hơn 07 giờ 30 phút cùng ngày, T2 điều khiển xe chở một thùng giấy carton, phía bên ngoài có dán giấy giao hàng và dán thêm một tờ giấy trắng, trên tờ giấy trắng có ghi Hảo (0927789999) gửi Thảo (0768256880). T2 giao nguyên thùng giấy carton cho Ph. Ph nhận và trả tiền cho T2.

Ph cùng với T mở thùng giấy carton ra, thấy bên trong thùng có chứa hai hộp sữa bằng thiếc màu xanh, có dòng chữ Aptamin. Ph lấy ra một hộp sữa và dùng kéo khui hộp sữa lấy ra hai bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi bọc đều có chứa nhiều viên thuốc lắc màu hồng. Khi Ph khui hộp sữa thứ hai thì T không có mặt tại đó, sau đó T và Ph ra phía trước tiệm sửa xe uống cà phê và ăn sáng. Tại đây, Ph nói cho T biết ma túy trong hộp sữa thứ hai là loại ma túy khây. Khi cả hai đang ngồi thì bị lực lượng Công an ập đến kiểm tra và phát hiện thu giữ trên kệ úp chén bằng nhựa đặt tại vị trí bếp nấu ăn của tiệm sửa xe gồm 05 bọc nilon màu trắng, trong đó có 02 bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi bọc có chứa 40 viên nén màu hồng, còn 03 bọc nilon màu trắng còn lại, bên trong mỗi bọc đều có chứa ma túy khây.

Mục đích Ph mang ma túy đến cất giấu tại tiệm sửa xe của T là để cùng T bán lại cho người khác. Nguồn gốc ma túy từ đâu Ph có thì T không biết, chỉ biết số ma túy này là do T2 mang đến.

Kết quả giám định xác định 80 viên nén màu hồng là ma túy, có tổng khối lượng 41,7938 gam, loại MDMA và tinh thể màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 239,67 gam, loại Ketamine.

Đối với bị cáo Ph kêu oan, cho rằng không liên quan đến hành vi phạm tội của T như đã nêu trên. Tuy nhiên, bị cáo kêu oan là không có cơ sở, bởi lẽ:

- Cả hai bị cáo cùng nghiện ma túy;

- Tại phiên tòa, bị cáo T xác định khi Ph khui hộp sữa tại tiệm xe của T thì bên trong chứa ma túy, không có chứa sữa giả và gạo như Ph trình bày. Trình bày của bị cáo T là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vì trong biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 262-263) không có thể hiện ý kiến của bị cáo Ph về việc trong 02 hộp sữa chỉ chứa sữa giả và gạo.

- Tại phiên tòa, bị cáo Ph xác định đặt mua sữa từ vợ chồng Tuấn A, nhưng không xác định rõ lý lịch, nơi cư trú cũng như số điện thoại của Tuấn A. Nên việc điều tra, xác minh đối với vợ chồng Tuấn A là không cần thiết.

- Theo lời khai của Trịnh Công T2:

+ Lời khai ngày 30/3/2022 (bút lục số 317-318): T2 sử dụng 03 số điện thoại, gồm 0849.448.220, 0358.47689 và 0915.129.433. Sáng ngày 20/01/2022 Ph dùng số điện thoại 0845.952.952 gọi cho T2 03 lần vào số 0849.448.220, lần thứ 04 gọi vào số này nhưng T2 chuyển cuộc gọi qua số 0915.129.433, nội dung Ph nhờ T2 đến trạm xe Ngọc A tại bến xe Cà Mau nhận thùng sữa đem về cho Ph đợi tại tiệm sửa xe của T thuộc khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau. Thùng sữa bên ngoài là thùng catton kèm phiếu giao hàng và tờ giấy trắng có ghi Hảo (0927.789999) gửi Thảo (0768.256.880).

+ Lời khai ngày 20/6/2022 (bút lục số 319-320): Cuộc nói chuyện giữa Ph và T2 vào sáng ngày 20/01/2022 diễn ra hơn 01 phút, nhưng khi nhớ ra ghi âm thì thời lượng chỉ có 11,05 giây có đoạn “Nhận thùng sữa đem về tiệm anh T phải không”. Kết luận giám định số 626 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/01/2023 xác định giọng nói của Huỳnh Văn Ph.

+ Lời khai ngày 20/01/2022 (bút lục số 315-316): Thùng giấy catton Công an thu giữ tại tiệm sửa xe của T chính là thùng giấy mà T2 đến trạm xe Ngọc A nhận đem về giao cho Ph tại tiệm sửa xe của T vào sáng ngày 20/01/2022.

+ Cây cân tiểu li và nhiều bọc ni lon nhỏ màu trắng bị thu giữ là của Ph đem đến tiệm sửa xe của T để phân chia ma túy ra bán lại;

- Quá trình tạm giam, Ph thông tin cho T kêu T nhận hết tội thay cho Ph (bút lục số 339, 341).

Với những tình tiết như trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố các bị cáo Ph và T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan cho các bị cáo.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chính sách quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm trật tự an T xã hội, hủy hoại sức khỏe và sức lao động của con người, là mầm mống của nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều nghiện ma túy, mua bán ma túy với khối lượng rất lớn. Vì vậy, việc xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo là rất cần thiết. Trước khi phạm tội, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Ph giữ vai trò chính, trực tiếp tìm nguồn mua ma túy, bị cáo T giúp sức trong việc cất giấu ma túy và giao ma túy theo chỉ đạo của bị cáo Ph. Các bị cáo mua bán ma túy là trái pháp luật. Phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo quy định.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ sau đây cho các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Ngoài lần phạm tội này, trước đó vào sáng ngày 19/01/2022, Ph và T còn bán ma túy 01 lần cho người mua để thu lợi bất chính. Do đó, các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên.

Tình tiết giảm nhẹ:

Đối với bị cáo Ph: Có ông nội tên Huỳnh Văn B được hưởng chế độ trợ cấp 01 lần do trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ, có bà dì tên Huỳnh Hồng V được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, có ông cậu tên Huỳnh Văn Th được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; Có kiến thức pháp luật hạn chế do có trình độ học vấn thấp.

Đối với bị cáo T: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự thú; Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án; Gia đình tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng. Luật sư bào chữa cho bị cáo xác định bị cáo là lao động chính trong gia đình nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương nên không có cơ sở để chấp nhận.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là có cơ sở. Hội đồng xét xử quyết định cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để một thời gian dài đủ để cải tạo thành người tốt cũng như phòng ngừa chung. Trong đó, mức hình phạt đối với bị cáo Ph cần phải nghiêm khắc hơn đối với bị cáo T.

Với các phân tích như trên, ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo Ph không được chấp nhận, ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo T được chấp nhận một phần.

Vật chứng trong vụ án, được xử lý như sau:

Các vật chứng là vật cấm và vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy, gồm: Mẫu vật hoàn lại sau giám định, cân tiểu ly và 11 chìa khóa.

Các vật chứng liên quan đến giao dịch có giá trị cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, gồm: 04 điện thoại di động, 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo T.

Trả lại cho bị cáo Ph 1,6 triệu đồng.

Tịch thu lưu tại hồ sơ một cuốn tập học sinh.

Do bị kết án nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với Trịnh Công T2: Việc T2 nhận thùng đồ cho Ph, T2 hoàn T không biết bên trong là ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau không xử lý là phù hợp.

Đối với Mai Văn Đ: Quá trình điều tra xác định vào ngày 19/01/2022, Đ có nhận một gói đồ từ T đem đến quá Karaoke Trump để giao cho Ph, nhưng Đ không biết đây là ma túy.

Đối với Bùi Bé Ng là vợ của bị cáo Ph: Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh Ng có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Hiện nay, Ng không có mặt tại địa phương, không làm việc lại được. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Đối với Huỳnh Thị H là người đứng tên đăng ký số điện thoại 0927.789.999 cũng là tên được ghi trên phần gửi hàng. Hiện nay, H không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Số điện thoại 0768.256.880 theo kết quả xác minh và trả lời của Công ty dịch vụ Mobiphone khu vực 9 xác định là do Đào Ngọc D, sinh năm 1976, đăng ký thường trú: Thị trấn B, thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đăng ký sử dụng. Tuy nhiên, D xác định không có đăng ký và sử dụng số điện thoại này và không quen biết Huỳnh Văn Ph.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1. Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 251, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2022;

1.2. Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Trí T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bị cáo 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2022;

2. Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 21/GĐH-PC09 ngày 24/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau được niêm phong kín có chữ ký, chữ viết họ tên giám định viên Trần Anh K (người chứng kiến), Trương Hồ V (người niêm phong) và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự đóng giáp lai niêm phong; 01 (một) cây cẩn tiểu li màu bạc (cũ đã qua sử dụng); 02 (hai) lon sữa màu xanh, trên mỗi lon sữa đều có dòng chữ Aptamil (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) thùng giấy catton, bên ngoài thùng giấy catton có dán phiếu giao hàng và dán thêm một tờ giấy trắng, trên tờ giấy trắng có ghi Hảo (0927.789.999) gửi Thảo (0768.256.880) (cũ đã qua sử dụng); nhiều bọc nilon màu trắng chưa qua sử dụng và 11 (mười một) chìa khóa phòng được niêm phong kín trong phong bì của Công an thành phố Cà Mau có chữ ký, họ tên Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Minh D, Trương Phước L, Phạm Quốc V (cũ đã qua sử dụng). Các vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/3/2023).

2.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen (do sim bị khóa không kiểm tra được, cũ đã qua sử dụng), 01 (một) điện thoại di động dạng Iphone màu vàng (do sim bị khóa không kiểm tra được, cũ đã qua sử dụng), 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (do sim bị khóa không kiểm tra được, cũ đã qua sử dụng), 01 (một) điện thoại di động dạng Iphone (do sim bị khóa không kiểm tra được, cũ đã qua sử dụng), 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo T. Vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/3/2023 và Biên lai thu tiền số 0000141 ngày 16/3/2023).

2.3. Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn Ph 1.600.000 (một triệu sáu trăm nghìn) đồng. Số tiền hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên lai thu tiền số 0000148 ngày 30/3/2023).

2.4. Tịch thu lưu tại hồ sơ 01 (một) cuốn tập học sinh (bút lục số 410-429);

3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/bị cáo.

4. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ