vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Mùa Sếnh Ch (Tên gọi khác: Mùa A Ch) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùa Sếnh Ch 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 06/02/2020. Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa Sếnh Chứ - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Mùa Sếnh Ch (Tên gọi khác: Mùa A Ch) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày: 04 - 5 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Nguyễn Thị Mừng

2. Ông: Vũ Đức Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020, tại phòng xét xử, trụ sở Tòa án nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ tên: Mùa Sếnh Ch; tên gọi khác: Mùa A Ch; sinh năm 1965; Tại: Xã PS, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT: Bản PH, xã PS, huyện TG, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: Lớp 4; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mùa A D (đã chết) và bà: Giàng Thị S (đã chết); Bị cáo có vợ: Giàng Thị Ch, sinh năm 1968; Bị cáo có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị cơ quan nhà nước xử phạt vi phạm hành chính lần nào. Ngày 14/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện TG xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 06/12/2016 đã chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương sinh sống, bị cáo đã thi hành xong phần án phí của bản án này. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/02/2020 đến ngày 09/02/2020 và bị tạm giam từ ngày 09/02/2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện TG. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 03/02/2020, Mùa Chếnh Ch tự ý lấy xe máy của gia đình đi từ bản PH, xã PS, huyện TG, tỉnh Điện Biên lên Trung tâm xã XN, huyện TC, tỉnh Điện Biên để chơi tết. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Ch đang đi bộ xem chợ tết thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, Ch không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Người đàn ông dân tộc Mông chủ động hỏi Ch có mua Heroine không thì người đó bán cho. Ch đồng ý mua 1.000.000 đồng, người đàn ông đó bảo Ch ngồi lên xe máy và chở Ch đến bãi đá thuộc xã XN. Tại đây, Chứ lấy 1.000.000 đồng đưa cho người đó và nhận lấy 01 gói Nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine cất vào túi áo khoác. Từ khi mua được ma túy đến ngày 06/02/2020 Ch đã cấu ra sử dụng 04 lần và cấu ra một ít Heroine gói lại bằng giấy bán cho một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ với giá 20.000 đồng vào 07 giờ ngày 05/02/2020. Số tiền bán ma túy Ch đã sử dụng mua thức ăn hết. Đến 09 giờ ngày 06/02/2020, khi Ch đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an huyện TG đến và yêu cầu kiểm tra đối với Ch phát hiện thu giữ: Trong túi quần bên trái Ch đang mặc 01 gói Heroine gói bằng Nilon màu xanh, Ch khai nhận đó là Heroine của Ch cất giấu mục đích để sử dụng và bán. Tổ công tác mời người chứng kiến và chính quyền địa phương, đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng. Cùng ngày Cơ quan CSĐT

- Công an huyện TG thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Mùa Sếnh Ch, quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, đồ vật, tài liệu gì. Sau đó Ch được đưa về trụ sở Công an huyện TG để điều tra làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 06/02/2020 đã xác định vật chứng thu giữ của Mùa Sếnh Ch gồm: Số chất bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng 0,55 gam, trích 0,06 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại có khối lượng 0,49 gam

Tại bản kết luận giám định số: 170/GĐ - PC09 ngày 17/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa Sếnh Ch gửi giám định là ma túy: Loại Heroine (Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018).

Tại phiên tòa bị cáo Mùa Sếnh Ch một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKS, ngày 30/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Mùa Sếnh Ch về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện VKSND huyện TG, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,55 gam Heroine, đã trích 0,06 gam làm mẫu vật gửi giám định, còn lại có khối lượng 0,49 gam (Vật chứng còn lại đựng trong 01 phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước gói niêm phong có ghi vật chứng còn lại của vụ án Mùa Sếnh Ch, mặt sau gói niêm phong trên mép dán có chữ ký giáp lai và dấu niêm phong của Công an huyện TG: Bên trong có chứa 0,49 gam Heroine, 01 mảnh túi nilon màu xanh; 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Mùa Sếnh Chứ). Miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho mình và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Hồi 09 giờ, ngày 06/02/2020, khi Ch đang ở nhà tại Bản PH, xã PS, huyện TG, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện TG kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên trái bị cáo đang mặc 01 gói Heroine có khối lượng 0,55 gam gói bằng Nilon màu xanh, số ma túy trên bị cáo khai cất giấu để sử dụng và để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Trước khi bị bắt tại nhà bị cáo đã bán 01 gói Heroine cho một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ với giá 20.000đ vào khoảng 07 giờ ngày 05/02/2020, số còn lại bị cáo cất giấu để bán đã thể hiện động cơ, mục đích thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm thu lợi trái pháp luật, đồng thời thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện TG nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo chưa lần nào bị cơ quan nhà nước xử phạt vi phạm hành chính. Hội đồng xét xử nhận thấy, ngày 14/9/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện TG xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 06/12/2016 đã chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương sinh sống, bản thân là người cũng đã lớn tuổi, nhưng bị cáo không chịu lấy đó là bài học cho mình để tu dưỡng rèn luyện mà vẫn tiếp tục phạm tội, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 0,55 gam nên cần áp dụng hình phạt tù để đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe và tiếp tục giáo dục bị cáo, đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo nên không có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Các vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông mà bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo ngày 03/02/2020 do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ của người đó nên Cơ quan CSĐT Công an huyện TG không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với người đàn ông mà bị cáo khai là người đã mua Heroine của bị cáo vào ngày 05/02/2020 với giá 20.000đ tại nhà của bị cáo do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ của người đó nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện TG không có cơ sở, căn cứ xác định bị cáo đã bán ma túy cho người nào nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

- Đối với số tiền 20.000 đồng bán ma túy bị cáo khai đã mua thức ăn cho gia đình hết, do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ của người đó nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện TG không có cơ sở, căn cứ xác định bị cáo đã bán ma túy cho người nào, nên Hội đồng xét xử cũng không đặt vấn đề truy thu số tiền trên đối với bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST nên bị cáo được miễn án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tùng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Vật chứng của vụ án gồm: 0,55 gam Heroine đã trích 0,06 gam làm mẫu vật gửi giám định, còn lại 0,49 gam (Vật chứng còn lại đựng trong 01 phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước gói niêm phong có ghi vật chứng còn lại của vụ án Mùa Sếnh Ch, mặt sau gói niêm phong trên mép dán có chữ ký giáp lai và dấu niêm phong của Công an huyện TG: Bên trong có chứa 0,49 gam Heroine, 01 mảnh túi nilon màu xanh; 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Mùa Sếnh Ch) là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên về hình phạt, tội danh, án phí và vật chứng Heroine là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Bị cáo Mùa Sếnh Ch (Tên gọi khác: Mùa A Ch) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùa Sếnh Ch 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 06/02/2020.

3. Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,55 gam Heroine đã trích 0,06 gam gửi giám định, còn lại 0,49 gam (Vật chứng còn lại đựng trong 01 phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước gói niêm phong có ghi vật chứng còn lại của vụ án Mùa Sếnh Ch, mặt sau gói niêm phong trên mép dán có chữ ký giáp lai và dấu niêm phong của Công an huyện TG: Bên trong có chứa 0,49 gam Heroine, 01 mảnh túi nilon màu xanh; 01 vỏ gói niêm phong dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Mùa Sếnh Ch).

(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện TG, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện TG, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2020).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/5/2020).

Cỡ chữ