vanban.org

Bản án 213/2025/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "NGUYEN HOAI N"
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:213/2025/LĐ-ST
Ngày: 15-5-2025
V/v tranh chấp hợp đồng lao động
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Lê Vân – Phó chủ tịch liên đoàn

lao động thành phố Thuận An;

2. Ông Lê Văn Công

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Thái Vương Triều là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Vào ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án lao động thụ lý số 59/2025/TLST-LĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng lao động”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2025/QĐXXST-LĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH A2; địa chỉ: Số A, Đại lộ H, KCN V - Singapore, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn Trường A, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: Đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N trình bày:

Do nhu cầu rút bảo hiểm một lần nên ông Nguyễn Hoài N có liên hệ với bảo hiểm xã hội thành phố T để rút bảo hiểm theo quy định. Ông N đã liên hệ thì được thông báo từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011 ông N có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH A2 (V) và công ty có thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho ông. Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời gian trên thì ông đang làm việc tại một công ty khác và cũng tham gia bảo hiểm xã hội. Do đó việc rút bảo hiểm không thể thực hiện được, ông N cho rằng vào thời gian trên ông có cho ông Nguyễn Văn Trường A mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH A2 (V) với tên của ông (Nguyễn Hoài N) và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011 nhưng trên thực tế Nguyễn Văn Trường A là người trực tiếp làm việc tại công ty. Nhận thấy việc ông Nguyễn Văn Trường A mượn hồ sơ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A2 (V) là sai quy định, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Tuyên hợp đồng lao động giữa người lao động có tên Nguyễn Hoài N (do ông Nguyễn Văn Trường A là người ký kết) với người sử dụng lao động Công ty TNHH A2 (V) từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011 là vô hiệu.

Do Nguyễn Hoài N đồng ý cho ông Nguyễn Văn Trường A sử dụng hồ sơ của mình để làm việc tại Công ty TNHH A2 (V) dẫn đến việc trùng lặp quá trình đóng bảo hiểm xã hội là do lỗi của nguyên đơn nên nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.

Quá trình tố tụng, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Quá trình tố tụng bị đơn Công ty TNHH A2 (V) trình bày: Công ty TNHH A2 (V) và ông Nguyễn Hoài N có ký hợp đồng lao động vào tháng 10/2008 và công ty có tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Hoài N đầy đủ từ tháng 10/2008 đến khi ông Nguyễn Hoài N nghỉ việc vào tháng 03/2011. Khi ông Nguyễn Hoài N đến công ty làm việc thì có cung cấp cho Công ty hồ sơ xin việc gồm sơ yếu lý lịch, giấy khám sức khỏe, giấy CMND, đơn xin việc làm. Hồ sơ đều thể hiện tên người xin việc là ông Nguyễn Hoài N. Vì vậy, hàng tháng công ty đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đều có tên Nguyễn Hoài N chứ không phải ông Nguyễn Văn Trường A, và hồ sơ lưu của công ty không có tên ông Nguyễn Văn Trường A. Đến ngày 25 tháng 02 năm 2025 Công ty có nhận thông báo thụ lý của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An về việc Tranh chấp hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Hoài N (do ông Nguyễn Văn Trường A là người ký kết) với Công ty TNHH A2 (V) từ tháng 10/2008 đến tháng 03/2011 là vô hiệu toàn bộ. Do đó, công ty thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty không có yêu cầu phản tố đồng thời có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Trường A trình bày:

Ông Nguyễn Hoài N và ông Nguyễn Văn Trường A là quan hệ anh em. Năm 2008 do (Nguyễn Văn Trường A) chưa đủ tuổi lao động nên có mượn hồ sơ cá nhân của ông N để xin việc tại Công ty TNHH A2 (V). Trên thực tế ông A là người trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH A2 (V) từ tháng 10/2008 đến tháng 03/2011 thì nghỉ việc. Nay ông N yêu cầu tuyên hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Hoài N (do ông Nguyễn Văn Trường A là người ký kết) với người sử dụng lao động Công ty TNHH A2 (V) từ tháng 10/2008 đến tháng 03/2011 là vô hiệu thì ông A đồng ý. Ông A không yêu cầu gì đối với thời gian tham gia bảo hiểm này.

Đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và có ý kiến trình bày như sau:

Từ tháng 9/2008 đến tháng 01/2009 ông N tham gia bảo hiểm xã hội ở Công ty Cổ Phần L với số sổ là 7408248342. Từ tháng 4/2008 đến tháng 05/2008, ông Nguyễn Hoài N tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH M với mã số bảo hiểm xã hội là 7408055614. Từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2010 ông N tham gia BHXH tại Công ty TNHH K với mã số bảo hiểm xã hội 7409093425. Từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011 ông N tham gia BHXH tại Công ty TNHH A2 (V) theo mã số bảo hiểm xã hội là 7408292222. Từ tháng 10/2010 đến tháng 11/2023 ông N tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH A3 là 7408248342. Trong quá trình làm việc các Công ty đều có tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp cho Nguyễn Hoài N, sinh ngày 19/5/1989, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx. Các Công ty ông N tham gia đều đã được bảo hiểm xã hội xác nhận chốt sổ, chưa hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần và trợ cấp thất nghiệp.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền theo quy dịnh pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ Điều 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 127; Điều 131 của Bộ luật dân sự; Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.

Về kiến nghị khắc phục: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp:

Ông Nguyễn Hoài N khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động giữa người lao động có tên Nguyễn Hoài N (do ông Nguyễn Văn Trường A là người ký kết) với người sử dụng lao động Công ty TNHH A2 (V) từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011 là vô hiệu. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH A2 (V), địa chỉ: Số A, Đại lộ H, KCN V - Singapore, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N, bị đơn Công ty TNHH A2 (V), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông A và Bảo hiểm thành phố T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung có yêu cầu: Ông Nguyễn Văn Tường A1 sử dụng hồ sơ xin việc mang tên ông Nguyễn Hoài N để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A2 (V) từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011, được công ty tham gia BHXH được thể hiện tại sổ bảo hiểm xã hội sổ số: 7408292222 cho ông Nguyễn Hoài N, đồng thời tại thời điểm từ tháng 9/2008 đến tháng 01/2009 ông N tham gia bảo hiểm xã hội ở Công ty Cổ Phần L với số sổ là 7408248342. Tháng 04/2009 ông N tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH C với mã số bảo hiểm xã hội là 7409166852. Từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2010 ông N tham gia BHXH tại Công ty TNHH K với mã số bảo hiểm xã hội 7409093425. Từ tháng 10/2010 đến tháng 11/2023 ông N tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH A3 là 7408248342. Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thông tin bảo hiểm xã hội cung cấp, có cơ sở xác định: Việc ông A1 sử dụng thông tin hồ sơ xin việc của ông N để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A2 (V) là không đúng chủ thể xác lập hợp đồng, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động được quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019). Căn cứ Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015), yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa người lao động có tên Nguyễn Hoài N và Công ty TNHH A2 (V) từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011 là có cơ sở chấp nhận. Do hợp đồng lao động vô hiệu nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng.

Nguyên đơn chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, từ chối nhận các quyền lợi có liên quan đến việc tham gia BHXH tại Công ty TNHH A2 (V). Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Tòa án không xem xét giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bị đơn thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có yêu cầu phản tố. Trường hợp có phát sinh tranh chấp liên quan đến việc giải quyết hậu quả hợp đồng lao động vô hiệu thì được quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác. Sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

Án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 5, 32, 35, 39, 147, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Các Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 và Điều 190 Bộ luật

Lao động năm 2019;

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoài N về việc “tranh chấp hợp đồng lao động” đối với Công ty TNHH A2 (V).

2. Tuyên hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Hoài N (do ông Nguyễn Văn Tường A1 ký kết) với Công ty TNHH A2 (V), thời gian làm việc từ tháng 10/2008 đến tháng 3/2011 vô hiệu. Bảo hiểm xã hội thành phố T thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với ông Nguyễn Hoài N theo quy định pháp luật.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí lao động sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hoài N tự nguyện chịu 300.000 đồng, khấu trừ toàn bộ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000755 ngày 12/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ