- Tranh chấp gì? án hình sự — "võ văn hiệp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn H và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 190/2017/HSPT Ngày 19/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Đình Thắng
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Cảnh
Ông Cao Văn Hiếu
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 152/2017/HSPT ngày 22/8/2017 đối với bị cáo Võ Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 15/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo: Võ Văn H, sinh ngày 26.4.1991; Nơi ĐKNKTT: Tổ 2x, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: K5x/7 đường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; Số CMND 201622xxx do Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 0x/x/20xx; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Võ Văn Tx (s) và bà Nguyễn Thị Bích Lx (s); Tiền án: Ngày 27/6/2013 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/4/2017. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong ngày 18/4/2017, Võ Văn H đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 45 phút, H đột nhập vào nhà số 29 đường N trộm cắp của bà Lê Thị X 01 điện thoại di động hiệu Samsung trị giá 1.000.000 đồng và 700.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ, H đột nhập vào nhà số 6 đường T trộm cắp của chị Võ Thị Thu H 01 điện thoại đi động Iphone 5s màu trắng trị giá 1.500.000 đồng, 01 điện thoại Lenovo trị giá 1.500.000 đồng, 01 điện thoại Samsung trị giá 150.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 14 giờ, Võ Văn H đột nhập vào nhà số 04 đường H trộm cắp của chị Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động Iphone 6 plus trị giá 5.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: Sau khi trộm cắp ở nhà số 04 đường H, Võ Văn H đột nhập vào nhà số 17 đường H trộm cắp của ông Lê Đức D 500.000 đồng và 09 USD Mỹ tương đương 200.415 đồng.
Tổng giá trị tài sản Võ Văn H đã chiếm đoạt là 10.550415 đồng.
Tại Bản án sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 15/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS
Xử phạt Võ Văn H 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/4/2017.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo bản án.
Ngày 18/7/2017, bị cáo Võ Văn H có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Văn H có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Bị cáo H đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có tổng giá trị 10.550.415 đồng, nên Bản án sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 15/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn H 03 năm 06 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Võ Văn H cũng thừa nhận Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo b khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự là đúng và bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trong ngày 18/4/2017, tại phường H, quận H, Võ Văn H đã lợi dụng sơ hở của những người bị hại, H đột nhập vào nhà số 29 đường N trộm cắp của bà Lê Thị X 01 điện thoại di động hiệu Samsung trị giá 1.000.000 đồng và 700.000 đồng, nhà số 6 đường T trộm cắp của chị Võ Thị Thu H 01 điện thoại đi động Iphone 5s màu trắng trị giá 1.500.000 đồng, 01 điện thoại Lenovo trị giá 1.500.000 đồng, 01 điện thoại Samsung trị giá 150.000 đồng, nhà số 04 đường trộm cắp của chị Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động Iphone 6 plus trị giá 5.000.000 đồng, nhà số 17 đường H trộm cắp của ông Lê Đức D 500.000 đồng và 09 USD Mỹ tương đương 200.415 đồng. Tổng giá trị tài sản Võ Văn H đã chiếm đoạt là 10.550.415 đồng.
Do đó, Bản án sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 15/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 138 BLHS là có căn cứ, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo Võ Văn H: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản án sơ thẩm đã đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đồng thời áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Đều 46 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là phù hợp. Các quyết định của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do đó, căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Võ Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn H và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS
Xử phạt Võ Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/4/2017.
2. Về án phí: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Võ Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TPĐN; - Phòng HSNV- CA TPĐN (PV27); - Chi cục THADS quận Hải Châu; - TAND quận Hải Châu; - VKSND quận Hải Châu; - Công an quận Hải Châu; - Trại giam Hòa Sơn; - Bị cáo; - Lưu HS | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đình Thắng |