vanban.org

Bản án 29/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 19/05/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Quang T1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang T1 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2017/HSST
Ngày 19/5/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ Pên toà: Ông Nguyễn Ngọc Bình.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Dương Thị Huyền.

2/ Ông Nguyễn Văn Phiếu.

Thư ký Toà án ghi biên bản Pên toà: Ông Bùi Quang Trung, cán bộ Toà án nhân dân huyện N - tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2017, tại trụ sở UBND xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2017/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Phạm Quang T1 (Tên gọi khác: không).

Sinh năm 1993, tại N - Ninh Bình; Trú tại: thôn V, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Bố đẻ: Phạm Quang T2, sinh năm 1965; Mẹ đẻ: Đỗ Thị N, sinh năm 1969; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có.

* Tiền án:

- Tại Bản án số 52/HSST ngày 27/10/2011 Tòa án nhân dân huyện N xử phạt Phạm Quang T1 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tại Bản án số 64 ngày 27/09/2012 Tòa án nhân dân huyện N xử phạt Phạm Quang T1 42 tháng tù, về tội “Cướp tài sản”.

- Tại bản án số 22/2017/HSST ngày 26/4/2017 Toà án nhân dân huyện G xử phạt Phạm Quang T1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

* Tiền sự: Chưa có.

Bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 11/L-CQĐT ngày 07/02/2017 của Cơ quan CSĐT Công an huyện G. Trong vụ án trộm cắp tài sản xẩy ra tại huyện G, tỉnh Ninh Bình, (có mặt).

Người bị hại: Ông Hứa Văn P, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1957; Cùng trú tại: thôn S, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình:

Bà Phạm Thị B uỷ quyền cho ông Hứa Văn P theo văn bản uỷ quyền ngày 08/4/2017 (ông P có mặt tại phiên tòa).

NHẬN THẤY:

Bị cáo Phạm Quang T1 bị Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện N, tỉnh Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 06/02/2017, Phạm Quang T1 đứng ở sân nhà mình quan sát sang nhà ông Hứa Văn P ở thôn S, xã S, huyện N cách nhà T1 khoảng 100 mét thấy nhà ông P không có người ở nhà nên T1 đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản gia đình ông P. Phạm Quang T1 đã trèo qua tường rào để vào trong sân nhà ông P sau đó T1 đi đến khu vực bếp nhà ông P lấy một thanh sắt kim loại dài 30 cm để cạnh cửa bếp dùng thanh sắt phá khóa cửa bếp nhà ông P và đi vào tìm tài sản ở trong bếp nhưng không lấy được tài sản gì nên T1 đã lấy một con dao Năm ở trong bếp sau đó đi lên khu vực nhà 3 gian lợp ngói của gia đình ông P xử dụng con dao Năm cậy phá cửa đột nhập vào trong nhà ông P đi sang gian nhà mái bằng là phòng khách thông với khu nhà 3 gian lợp ngói. T1 đi đến chiếc tủ để Tivi lấy một chiếc tô vít 6 cạnh để gần chiếc Tivi sau đó sử dụng tô vít cậy mở cánh chiếc tủ gỗ 3 ngăn kê cạnh tủ Tivi lục tìm tài sản. T1 phát hiện thấy một chiếc áo dài tay sáng mầu bên trong túi áo có 01 ví màu đen, T1 mở ví lấy được số tiền 2.500.000đ, sau đó vứt chiếc ví trên đống quần áo ở trong tủ. T1 tiếp tục đi vào gian buồng ngủ bên cạnh phòng khách thấy chiếc tủ gỗ loại 2 ngăn không khóa, T1 mở tủ ra lấy 01 túi vải màu đỏ - đen - xám bên trong đựng một bộ máy đo huyết áp nhãn hiệu ROSSMAX SWISS GABH, tramstr. 16 SN155068000388 kích thước (14x11x8) cm để ra ngoài phòng khách. Sau đó T1 đi lên gác xép nhà ông P nhặt 03 bao tải mầu trắng và lấy các tài sản gia đình ông P để trên gác xép gồm 02 cuộn dây bơm phòng cháy chữa cháy bằng vải màu trắng loại P 50 dài 20m/1 cuộn, 01 cuộn dây điện bọc nhựa PVC màu đỏ nhãn mác CTCP Đông Giang còn nguyên đóng gói của nhà sản xuất chưa bóc nilon có thông số 2 x1mm chiều dài cuộn dây 200m, 01 bộ nồi tích nhiệt nhãn hiệu “nồi mẫu tử” thể tích 7.0 lít bỏ tất cả vào 02 bao tải rồi mang số tài sản trên đi xuống phòng khách, T1 tiếp tục quan sát thấy tại phòng khách có để 01 lò vi sóng nhãn hiệu SANYO EM-G2182V màu xám kích thước (43x30x25)cm, 01 chiếc máy mài vỏ nhựa màu xanh nhãn hiệu Makita corporation kích thước (35x20)cm. T1 đi đến lấy chiếc lò vi sóng, chiếc máy mài và một túi vải màu đỏ - đen - xám bên trong đựng 01 bộ máy đo huyết áp bỏ tất cả vào một chiếc bao tải sau đó Phạm Quang T1 đem 03 chiếc bao tải đựng tất cả số tài sản trộm cắp tại gia đình ông P mang về nhà mình ở thôn V, xã S để cất giấu. Số tiền 2.500.000đ T1 đã chi tiêu hết cho bản thân.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày ông Hứa Văn P đi làm về phát hiện cửa nhà mình bị cậy phá, một số tài sản bị kẻ gian trộm cắp nên đã có đơn trình báo Công an huyện N giải quyết. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, quá trình khám nghiệm đã thu giữ tại cửa bếp nhà P một thanh sắt bằng kim loại dài 30cm một đầu bị cong là công cụ T1 sử dụng cậy phá cửa bếp nhà ông P.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Quang T1 Cơ quan điều tra Công an huyện N đã thu giữ: 01 lò vi sóng nhãn hiệu SANYO EM-G2182V màu xám kích thước (43x30x25)cm; 01 bộ nồi tích nhiệt nhãn hiệu “nồi mẫu tử” thể tích 7.0 lít; 01 túi vải màu đỏ - đen - xám bên trong đựng 01 bộ máy đo huyết áp nhãn hiệu ROSSMAX SWISS GABH, tramstr.16 SN155068000388 kích thước (14x11x8) cm; 02 cuộn dây bơm phòng cháy chữa cháy bằng vải màu trắng loại P 50 dài 20m/1 cuộn hai đầu có hai khớp nối bằng kim loại màu xám; 01 cuộn dây điện bọc nhựa PVC màu đỏ nhãn mác CTCP Đông Giang còn nguyên đóng gói của nhà sản xuất chưa bóc nilon có thông số 2 x1mm chiều dài cuộn dây 200m; 01 chiếc máy mài vỏ nhựa màu xanh nhãn hiệu Makita corporation kích thước (35x20)cm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 08/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 lò vi sóng nhãn hiệu SANYO EM-G2182V màu xám kích thước (43x30x25) cm trị giá 1.400.000đ; 01 bộ nồi tích nhiệt nhãn hiệu “nồi mẫu tử” thể tích 7.0 lít trị giá 600.000đ; 01bộ máy đo huyết áp nhãn hiệu ROSSMAX SWISS GABH, tramstr. 16 SN155068000388 kích thước (14x11x8) cm trị giá 1.000.000đ; 02 cuộn dây bơm phòng cháy chữa cháy bằng vải màu trắng loại phi 50 dài 20m/1 cuộn hai đầu có hai khớp nối bằng kim loại màu xám trị giá 1.300.000đ; 01 cuộn dây điện bọc nhựa PVC màu đỏ nhãn mác CTCP Đông Giang còn nguyên đóng gói của nhà sản xuất chưa bóc nilon có thông số 2 x1mm chiều dài cuộn dây 200m trị giá 1.600.000đ;01 chiếc máy mài vỏ nhựa màu xanh nhãn hiệu Makita corporation kích thước (35x20 )cm trị giá 300.000đ. Tổng trị giá tài sản là 6.200.000đ.

Tổng giá trị tài sản mà Phạm Quang T1 đã chiếm đoạt của gia đình nhà ông Hứa Văn P có trị giá 8.700.000đ.

- Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 24/4/2017 VKSND huyện N đã truy tố bị cáo Phạm Quang T1 về tội “Trộm cắp tài sản”; theo Điều 138 khoản 2 điểm c Bộ luật hình sự. Tại phiên toà kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Quang T1 từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qui định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận khoảng 14 giờ ngày 06/02/2017 khi phát hiện thấy gia đình nhà ông P không có ai ở nhà, bị cáo đã trèo qua tường rào để vào trong sân nhà ông P sau đó cậy, phá cửa vào trong nhà lấy tiền và tài sản như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận khoảng 14 giờ ngày 06/02/2017, Phạm Quang T1 đã lén lút, bí mật cậy phá cửa của gia đình ông Hứa Văn P ở thôn S, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình chiếm đoạt 01 lò vi sóng nhãn hiệu SANYO EM-G2182V màu xám kích thước (43x30x25) cm; 01 bộ nồi tích nhiệt nhãn hiệu “nồi mẫu tử” thể tích 7.0 lít; 01bộ máy đo huyết áp nhãn hiệu ROSSMAX SWISS GABH, tramstr. 16 SN 155068000388 kích thước (14x11x8) cm; 02 cuộn dây bơm phòng cháy chữa cháy bằng vải màu trắng loại phi 50 dài 20m/1 cuộn hai đầu có hai khớp nối bằng kim loại màu xám; 01 cuộn dây điện bọc nhựa PVC màu đỏ nhãn mác CTCP Đông Giang còn nguyên đóng gói của nhà sản xuất chưa bóc nilon có thông số 2 x1mm chiều dài cuộn dây 200m; 01 chiếc máy mài vỏ nhựa màu xanh nhãn hiệu Makita corporation kích thước (35x20)cm. Tổng trị giá các tài sản là 6.200.000đ theo kết luận định giá tài sản số 04 ngày 08/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N và số tiền 2.500.000đ. Tổng trị giá tài sản mà Phạm Quang T1 đã chiếm đoạt của gia đình ông Hứa Văn P là 8.700.000đ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý; bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm". Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo là phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xử phạt tù về các tội chiếm đoạt tài sản nhưng khi về địa phương sinh sống, bị cáo không chịu tu trí làm ăn lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có; (Bản án số 64 ngày 27/09/2012 Tòa án nhân dân huyện N xử phạt Phạm Quang T1 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, tại bản án này HĐXX đã xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm và là yếu tố định khung hình phạt của lần phạm tội này và bản án số 22 ngày 26/4/2017, Toà án nhân dân huyện Gia Viễn xử phạt Phạm Quang T1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bản án chưa có hiệu lực pháp luật vì vậy không bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự).

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, quá trình điều tra ông Phạm Quang T2 (bố đẻ T1) đã tự nguyện bồi thường cho ông Hứa Văn P số tiền 2.500.000đ theo đề nghị của bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 2.500.000đ, Phạm Quang T1 đã chiếm đoạt của gia đình ông Hứa Văn P. Quá trình điều tra, ông Phạm Quang T2 (bố đẻ T1) đã tự nguyện bồi thường cho ông Hứa Văn P số tiền 2.500.000đ, ông P đã nhận đủ số tiền trên không có yêu cầu đề nghị gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với 01 lò vi sóng nhãn hiệu SANYO EM-G2182V màu xám kích thước (43x30x25) cm; 01 bộ nồi tích nhiệt nhãn hiệu “nồi mẫu tử” thể tích 7.0 lít ; 01 túi vải màu đỏ - đen - xám bên trong đựng 01bộ máy đo huyết áp nhãn hiệu ROSSMAX SWISS GABH, tramstr. 16 SN 155068000388 kích thước (14x11x8)cm; 02 cuộn dây bơm phòng cháy chữa cháy bằng vải màu trắng loại P 50 dài 20m/1 cuộn hai đầu có hai khớp nối bằng kim loại màu xám; 01 cuộn dây điện bọc nhựa PVC màu đỏ nhãn mác CTCP Đông Giang còn nguyên đóng gói của nhà sản xuất chưa bóc nilon có thông số 2 x1mm chiều dài cuộn dây 200m; 01 chiếc máy mài vỏ nhựa màu xanh nhãn hiệu Makita corporation kích thước (35x20)cm; 01 thanh sắt kim loại dài 30 cm một đầu hơi cong là tài sản hợp pháp của gia đình ông Hứa Văn P. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho ông P, sau khi nhận lại tài sản ông Hứa Văn P xác định còn nguyên vẹn không có đề nghị gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với 03 bao tải mầu trắng, 01 chiếc tô vít 6 cạnh, một con dao Năm là tài sản hợp pháp của gia đình ông Hứa Văn P do Phạm Quang T1 lấy sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra Phạm Quang T1 khai sau khi sử dụng xong T1 đã vứt tại nhà ông P. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được. Đến nay ông Hứa Văn P xác định số tài sản có giá trị không đáng kể nên không yêu cầu Phạm Quang T1 phải bồi thường.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Quang T1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Quang T1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ