- Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây ô nhiễm môi trường - phạm tội gây ô nhiễm môi trường (điều 235 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 235; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 187/2024/HSST Ngày 24 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tung; ông Nguyễn Văn Thể
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: ông Đinh Huy Hoàng, ông Lương Thành Công - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 166/2024/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với:
* Bị cáo: Đinh Văn H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố Nh, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Kh và bà Phạm Thị N; vợ: Nguyễn Thị B; con: 03 con (1991; 1993; 2000); tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến ngày 17/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn H: Luật sư Lý Đức Thành Nam (có mặt) và luật sư Nguyễn Văn Nam (vắng mặt) - Công ty Luật TNHH Hồng Bách và cộng sự; địa chỉ: Phòng 403, tầng 4, số 85, Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đinh Thành H, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố Nh, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Anh Trương Duy H, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ dân phố Ng, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Ông Bùi Văn A, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Ch, thành phố Ph, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Anh Trần Long V, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn Th, xã Đ, huyện Ph, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn K, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Ch, thành phố Ph, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Anh Đinh Tiến Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố Ng, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố Nh, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
- Ủy ban nhân dân phường Tiên Nội, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật: ông Vũ Tân D - Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H - Phó chủ tịch. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Văn H có nhu cầu mua chất thải như: trạc bê tông, gạch, ngói... phát sinh từ hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh để phục vụ vào việc san lấp mặt bằng khi nhận được công trình, nên H đã liên hệ thuê anh Trương Duy H làm phụ xe cho anh Bùi Văn A tìm mua và chở chất thải xây dựng mang về tập kết tại thửa đất số 888, tờ bản đồ địa chính số 4 do UBND phường T, thị xã Duy Tiên quản lý. Đinh Văn H và anh Trương Duy H thỏa thuận H trả cho anh H số tiền là 95.000đ/m3. Sau đó, từ khoảng đầu tháng 04/2024 cho đến ngày 08/5/2024, anh Trương Duy H có bảo các anh Trần Long V (là lái xe thuê cho anh A) và anh Trần Văn K (là bạn của anh H) cùng ở tổ dân phố D, phường Ch, thành phố Phủ Lý sử dụng 03 xe ô tô tải gồm 02 xe mang BKS 90H-000.39; xe ô tô mang BKS 90C-107.91 của anh Bùi Văn A và xe ô tô mang BKS 90C-074.43 của anh K, loại xe có trọng tải 15m3 và 16m3 vận chuyển 25 chuyến chất thải xây dựng về vị trí thửa đất trên.
Khi phát hiện việc Đinh Văn H chỉ chỗ cho lái xe đổ chất thải rắn thông thường tại thửa đất số 888, tờ bản đồ số 4 do UBND phườn T, thị xã Duy Tiên quản lý, ông Đinh Thành H là tổ trưởng TDP Nh, phường T, thị xã Duy Tiên đã nhắc nhở Đinh Văn H không tập kết chất thải tại khu đất trên. Sau đó ông Đinh Thành H đã ký vào giấy xác nhận cho Đinh Văn H được tập kết nhờ một thời gian, từ 10 đến 15 ngày rồi vận chuyển đi, trả lại mặt bằng. Sau khi phát hiện Đinh Văn H tập kết đổ chất thải, UBND phường T đã lập biên bản yêu cầu Đinh Văn H dừng việc đổ tập kết chất thải tại vị trí khu đất trên và yêu cầu vận chuyển toàn bộ chất thải xây dựng trả lại mặt bằng như trước nhưng Đinh Văn H đã không thực hiện theo yêu cầu của UBND phường.
Ngày 29/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn tiến hành lập biên bản vụ việc; tổ chức khám nghiệm hiện trường xác định vị trí, diện tích, khối lượng chất thải.
Kết quả khám nghiệm hiện trường khu đất đổ chất thải như sau: Phía Bắc tiếp giáp nghĩa trang nhân dân TDP Nh; phía Nam tiếp giáp đường trục liên thôn rộng 7,3m tiếp đến là ruộng lúa TDP Nh; phía Đông tiếp giáp đường đất rộng 3,9m tiếp đến là Nghĩa trang nhân dân TDP Nh; phía Tây tiếp giáp khu đất trống do UBND phường T quản lý. Trên khu đất này tại góc Đông Nam phát hiện bãi đổ, lấp chất thải vật liệu xây dựng gồm: Đá, trạt vữa, mạt và cục bê tông, gạch đỏ, gạch men...bề mặt bãi đổ gồ ghề không bằng phẳng. Bãi đổ có kích thước: Phía Nam: 26,3m; phía Bắc: 21m; phía Đông: 14,5m; phía Tây: 6m.
* Vật chứng thu giữ gồm: Tạm giữ 532.100kg chất thải xây dựng là vật chứng được thu tại vị trí bãi đổ chất thải. Hiện nay đang được tập kết tại khu đất trống thuộc TDP Ngô Tân, phường Tiên Nội, thị xã Duy Tiên. Thu 05 mẫu vật chất dạng đá, trạt, vữa.... ký hiệu mẫu M1, M2, M3, M4, M5 để phục vụ việc giám định. 01 di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có lắp 02 sim điện thoại gồm 01 sim viettell và 01 sim Vinaphone là chiếc điện thoại H dùng liên lạc với anh Trương Duy H để thỏa thuận mua chất thải xây dựng và chỉ vị trí đổ chất thải.
* Khám xét chỗ ở của Đinh Văn H tại TDP Nh, phường T, thị xã Duy Tiên: Không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Công văn số 796/CV-UB ngày 21/6/2024 của UBND thị xã Duy Tiên xác định: Theo Quy hoạch sử dụng đất thị xã Duy Tiên đến năm 2030 (được UBND tỉnh Hà Nam phê duyệt tại Quyết định số 1678/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2021): Vị trí thửa đất số 888, tờ bản đồ địa chính số 4, thuộc TDP Nh, phường T, thị xã Duy Tiên không thuộc quy hoạch để quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường; Thửa đất số 888, tờ bản đồ địa chính số 4 có diện tích 2044m2 là đất trồng lúa do UBND phường T quản lý.
Tại Kết luận giám định số 4124/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: "Các mẫu chất thải ký hiệu từ M1, M2, M3, M4, M5 gửi giám định có giá trị các thành phần nguy hại đặc trưng so với ngưỡng chất thải nguy hại quy định tại Bảng 1, Bảng 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại (QCVN 07:2009/BTNMT). Ngoài ra đều không tìm thấy các thành phần nguy hại hữu cơ khác được quy định tại Bảng 3, QCVN 07:2009/BTNMT; do đó các mẫu chất thải ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5 gửi giám định đều không phải là chất thải nguy hại. Căn cứ Khoản 10, Điều 3, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, mẫu chất thải trên là chất thải rắn thông thường.
Cáo trạng số 170/CT-VKS-DT ngày 15/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố Đinh Văn H về tội: "Gây ô nhiễm môi trường” theo điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị áp dụng điểm d khoản 3 Điều 235; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 05 năm đối với bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại OPPO; tịch thu cho tiêu hủy: 532.100 kg chất thải rắn và tuyên án phí đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đồng ý quan điểm bào chữa, không bổ sung gì; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, từ đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng từ tháng 04/2024 đến ngày 08/5/2024, tại TDP Nh, phường T, thị xã Duy Tiên, Đinh Văn H đã thỏa thuận mua của anh Trương Duy H các loại chất thải như trạc bê tông, trạt, gạch ngói ...phát sinh từ hoạt động xây dựng với giá 95.000đ/m3để phục vụ việc san lấp mặt bằng khi nhận công trình xây dựng, anh H đồng ý. Sau đó H tự ý chỉ cho anh Trương Duy H vận chuyển 532.100kg chất thải rắn thông thường đổ trái phép tại vị trí thửa đất số 888, tờ bản đồ địa chính số 4 là đất trồng lúa thuộc UBND phường T, thị xã Duy Tiên quản lý.
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường xung quanh, đủ yếu tố cấu thành tội “Gây ô nhiễm môi trường” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm d khoản 3 Điều 235 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ; có bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế xét không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với các hành vi khác trong vụ án:
Đối với anh Trương Duy H đã có hành vi dùng 03 xe ô tô tải để vận chuyển 25 chuyến chất thải đổ ra khu đất do UBND phường T, thị xã Duy Tiên quản lý. Tuy nhiên vị trí đổ do bị cáo Đinh Văn H chỉ, anh H không biết Đinh Văn H không có Giấy phép môi trường và không được phép đổ thải tại thửa đất trên. Mặc dù có thỏa thuận về việc H mua của anh H với giá 95.000đ/m3, tuy nhiên đến thời điểm H bị phát hiện, bắt giữ thì H chưa thanh toán tiền trả cho anh H do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý anh Trương Duy H về hành vi gây ô nhiễm môi trường là phù hợp.
Đối với anh Bùi Văn A là chủ phương tiện 02 xe ô tô BKS 90H - 000.39; 90C-107.91 đã giao xe cho anh Trương Duy H, anh Trần Văn K là chủ phương tiện xe ô tô BKS 90C-074.43 được anh H nhờ vận chuyển chất thải xây dựng để bán cho H. Quá trình điều tra, xác định được anh Bùi Văn A, anh Trần Văn K không biết, không bàn bạc, thống nhất gì với H về việc bố trí phương tiện vận chuyển như thế nào, chất thải đổ ở đâu. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Bùi Văn A, anh Trần Văn K về hành vi gây ô nhiễm môi trường là đúng.
Đối với anh Trần Long V là người lái xe thuê cho anh A đã điều khiển xe ô tô vận chuyển chất thải xây dựng đổ về khu vực đất theo sự hướng dẫn của anh Trương Duy H. Anh V không biết khu đất H chỉ vị trí đổ là khu vực không được phép đổ chất thải. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý anh Trần Long V về hành vi gây ô nhiễm môi trường là đúng.
Đối với ông Đinh Thành H là tổ trưởng TDP Nh, phường T, thị xã Duy Tiên, khi phát hiện việc H chỉ chỗ cho lái xe đổ chất thải rắn tại khu đất do UBND phường T quản lý thì ông H đã nhắc nhở H không được tập kết, đổ chất thải ở khu đất này. Do H trình bày chưa tìm được nơi để vận chuyển chất thải đi nên ông Đinh Thành H đã ký vào giấy xác nhận cho Đinh Văn H được tập kết nhờ một thời gian, yêu cầu H trong vòng 10 đến 15 ngày phải vận chuyển hết số chất thải đi nơi khác, trả lại mặt bằng. Xét ông H không có bàn bạc, hứa hẹn và không được hưởng lợi gì đối với vụ việc trên do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý ông Đinh Thành H với vai trò đồng phạm trong vụ án là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 di động nhãn hiệu OPPO bên trong có lắp 02 sim, Đinh Văn H đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước. Đối với 532.100 kg chất thải rắn không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 235; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Gây ô nhiễm môi trường”.
Xử phạt Đinh Văn H 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đinh Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen bên trong có lắp 02 sim điện thoại.
Tịch thu cho tiêu hủy: 532.100 kg chất thải rắn (Hiện đang gửi tại Tổ dân phố Ng, phường T, thị xã Duy Tiên).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đinh Văn H phải nộp: 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Công an thị xã Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - THADS thị xã Duy Tiên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Thuận |