- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2025/DS-ST Ngày 28-8-2025 V/v "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
2. Ông Nguyễn Minh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký viên, Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Lâm Chí Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Công L, sinh năm 2001, địa chỉ cư trú: Ấp Chà Là, xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Nay là ấp Chà Là, xã Phú Mỹ, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966.
2. Anh Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1984.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Tân Lập, xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Nay là ấp Tân Lập, xã Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Tại phiên toà: Anh L, ông S và anh K có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Nguyên đơn anh Lê Công L trình bày:
Khoảng 10 giờ ngày 16/8/2024 tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau), anh L cùng với một người khác ngồi ăn bánh bao trên vỏ Composite, anh L thấy anh Nguyễn Hoàng K cãi nhau với 02 người phụ nữ. Thấy vậy, anh L nói làm gì đòi đánh người ta, thì ông S chạy vỏ C đến đánh anh L, lúc này vỏ Composite của anh K ở gần đó chạy đến cùng với ông S đánh anh L. Sau khi bị đánh anh L phải điều trị bệnh, như sau: tiền thuốc: 1.050.000 đồng, tiền thuê xe ôm đi làm việc 10 lần x 300.000 đồng = 3.000.000 đồng, tiền mất ngày lao động 15 ngày x 500.000 đồng = 7.500.000 đồng, tổn thất tinh thần: 30.000.000 đồng, tổng cộng 42.150.000 đồng. Nay, anh Lê Công L khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Hoàng K và ông Nguyễn Văn S liên đới bồi thường số tiền 42.150.000 đồng.
*/ Bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:
Tại khu vực nuôi sò của ông S và anh K, thuộc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau), khoảng 10 giờ ngày 16/8/2024, anh K phát hiện anh L cùng nhiều người khác tự ý mò sò tại khu vực nuôi sò của ông S và anh K, anh K kêu anh L và những người khác ra khỏi khu vực nuôi sò, anh L không đồng ý và đòi đánh anh K, ông S chạy xuồng đến chỗ anh L và dùng tay đánh vào vùng mặt của anh L, anh L cũng đánh lại ông S bằng cây dầm, chỉ trúng phần mềm, còn anh K không có tham gia đánh anh L, sau đó các bên tự giải táng. Sự việc nêu trên, được Công an huyện T tiếp nhận điều tra xử lý, nhưng không có khởi tố vụ án hình sự. Việc anh L yêu cầu anh K liên đới bồi thường là không đúng. Ông S là người dùng tay đánh vào vùng mặt của anh L, được giám định 01%, ông S đồng ý bồi thường cho anh L chi phí điều trị số tiền 1.050.000 đồng, các khoản yêu cầu còn lại không đồng ý.
*/ Bị đơn anh Nguyễn Hoàng K trình bày: Sự việc như ông S trình bày là đúng. Anh K không có tham gia đánh anh L, như vậy anh L khởi kiện yêu cầu anh K cùng với ông S bồi thường là anh K không đồng ý.
Tại phiên toà:
- Anh L trình bày: Khoản tiền tổn thất tinh thần anh L thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông S và anh K liên đới bồi thường 20 triệu đồng, các khoản tiền còn lại anh L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Ông S trình bày: Tiền thuốc 1.050.000 đồng, ông S đồng ý bồi thường, các khoản tiền còn lại không đồng ý.
- Anh K trình bày: Anh K không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh L, vì anh K không có hành vi đánh anh L.
*/ Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:
1/ Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
2/ Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh L, buộc ông S bồi thường cho anh L số tiền 4.286.922 đồng; về án phí đề nghị xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Được xác định là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm”, bị đơn là ông Nguyễn Văn S và anh Nguyễn Hoàng K, có địa chỉ cư trú ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
Từ đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng theo khoản 6, Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39, điểm đ khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung tranh chấp:
Xét, khoảng 10 giờ ngày 16/8/2024 tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (khu vực Đầm Thị T), nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau, anh L cùng Trần Văn T1 đang ngồi ăn bánh bao trên vỏ Composite, thấy anh K xảy ra mâu thuẫn cự cãi với 02 người phụ nữ. Lúc này, ông S đang ở trong chòi cách đó khoảng 200m nghe tiếng anh K cự cãi lớn tiếng nên điều khiển vỏ C chạy ra chỗ anh K, khi ông S đến nhổ tàu dừa nước cậm làm ranh (dài 2,4 mét, còn tươi, đã róc hết lá) đánh liên tục 02 – 03 cái trúng vào lưng và ngực anh L, anh L dùng tay chụp tàu dừa nước giằng co với ông S nên tàu dừa bị rơi xuống vỏ, ông S di chuyển đến chỗ anh L đang đứng dùng tay xông vào đánh trúng vào mặt bên trái anh L. Tại Kết luận giám định số 244/KLTTCT-TTPY ngày 04/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh C, kết luận thương tích của anh L là 01% (một phần trăm). Do hành vi của ông S dùng tay đánh trúng vào gò má trái của anh L gây thương tích 01%, không cấu thành tội phạm về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 1092/QĐ-ĐTTH ngày 13/11/2024. Như vậy, ông S là người gây thương tích cho anh L là 01%, anh L khởi kiện yêu cầu ông S phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là có cơ sở, anh K không có hành vi gây thương tích cho anh L, như vậy phần yêu cầu khởi kiện này của anh L là không được chấp nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của anh L, căn cứ Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thấy rằng:
- Về chi phí điều trị: Căn cứ hoá đơn, chứng từ do anh L cung cấp thể hiện, tiền xét nghiệm 355 ngàn đồng, tiền siêu âm tổng quát 80 ngàn đồng, tiền chụp X quang 360 ngàn đồng, tiền thuốc 250 ngàn đồng, tổng cộng là 1.045.000 đồng.
Xét đây là chi phí hợp lý, nhưng anh L yêu cầu chênh lệch hơn 5.000 đồng, tuy nhiên tại phiên toà ông S đồng ý bồi thường cho anh L số tiền này là có lợi cho anh L, cần được ghi nhận ý chí tự nguyện của ông S đồng ý bồi thường cho anh L số tiền 1.050.000 đồng.
- Đối với yêu cầu của anh L yêu cầu tiền mất ngày công lao động, là 15 ngày x 500.000 đồng = 7.500.000 đồng, thấy rằng:
Tại phiên tòa anh L cho rằng, anh được người khác thuê chạy vỏ cân tôm, chủ vỏ trả tiền công cho anh là 500.000 đồng/ngày, nhưng anh L không cung cấp được chứng cứ chứng minh, nhưng đây là chi phí hợp lý cần áp dụng hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, để tính tiền mất thu nhập cho anh L, anh L hiện đang cư trú tại ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau, nay là ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau, là thuộc vùng III (theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ) quy định mức lương tối thiểu vùng III là 3.860.000 đồng/tháng, tức 148.461 đồng/ngày, cần chấp nhận cho anh L 02 ngày tiền mất thu nhập (ngày 16 và ngày 17/8/2024) x 148.461 đồng = 296.922 đồng.
- Về khoản tiền thuê xe ôm 10 lần x 300.000 đồng/chuyến = 3.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, anh L cho rằng khi bị ông S và anh K đánh, anh không trực tiếp chạy xe được, khi Cơ quan có thẩm quyền mời làm việc, anh phải thuê xe ôm chở 10 lần/chuyến, tuy nhiên anh L không cung cấp được chứng cứ chứng minh, nhưng đây là chi phí hợp lý cần chấp nhận cho anh L 02 ngày (ngày 16 và ngày 17/8/2024) x 300.000 đồng = 600.000 đồng.
- Tổn thất tinh thần: 20.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, anh L cho rằng ngoài việc bị ông S và anh K đánh, anh còn bị ông S và anh K có lời lẽ không tốt xúc phạm đến anh, anh bị ảnh hưởng về mặt tinh thần, nhưng anh L không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên, anh L bị thương tích 01%, cần tính cho anh L mức tổn thất tinh thần 01 tháng x 2.340.000 đồng (mức lương cơ sở do Nhà nước quy định) = 2.340.000 đồng.
Do đó, cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh L, buộc ông S bồi thường cho anh L tổng số tiền 4.286.922 đồng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L yêu cầu anh K liên đới bồi thường, cũng như yêu cầu về số tiền chênh lệch là 27.863.078 đồng.
Xét, đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở được chấp nhận.
Về án phí:
- Đối với anh L: Do không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh L yêu cầu ông S bồi thường số tiền chênh lệch 27.863.078 đồng.
Tuy nhiên, yêu cầu này của anh L thuộc trường hợp miễn nộp án phí, không buộc anh L phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
- Đối với ông S: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh L, buộc ông S bồi thường cho anh L số tiền 4.286.922 đồng.
Căn cứ khoản 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, buộc ông S phải nộp án phí dân sự không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Các điều 584, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Công L, buộc ông Nguyễn Văn S bồi thường cho anh Lê Công L số tiền 4.286.922 đồng (Bốn triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn chín trăm hai mươi hai đồng).
Kể từ ngày anh Lê Công L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn S không thi hành xong khoản tiền trên, ông Nguyễn Văn S còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
2/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Công L yêu cầu anh Nguyễn Hoàng K liên đới cùng với ông Nguyễn Văn S bồi thường và số tiền chênh lệch 27.863.078 đồng mà anh Lê Công L yêu cầu ông Nguyễn Văn S bồi thường.
3/ Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn S phải nộp án phí dân sự không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Các đương sự (3b); - VKSND khu vực 3 – Cà Mau (01b); - Phòng THADS khu vực 3 – Cà Mau (01b); - Lưu hồ sơ vụ án (01b); - Lưu án văn (01b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thành Quang |