- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:166/2023/HSST Ngày: 30/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thụy
Ông Nguyễn Hải Hà
Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B, Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại Điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2023/TLST-HS ngày 15/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023, đối với bị cáo:
Trần Minh P; Sinh năm: 2002; Nơi sinh: H; HKTT: H, phường M, thị xã K, tỉnh H; Nơi ở: Hiện không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T và bà: Nguyễn Thị T; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt ngày: 17/6/2023; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 45 phút ngày 17/06/2023, Tổ công tác Công an phường L, quận B, thành phố H tuần tra địa bàn, khi đi đến khu vực tại đầu ngách 35 ngõ 67 V phường L, quận B, thành phố H phát hiện Trần Minh P đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Đối tượng mua ma túy lợi dụng sơ hở chạy thoát. Quá trình kiểm tra, tổ công tác thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của P 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô và số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Tại chỗ, P khai nhận đó là ma túy dạng cần sa mang đi để bán và số tiền là của người mua ma túy đang giao dịch đã vứt lại khi bỏ chạy. Tổ công tác đã đưa P cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
* Tổ công tác thu giữ của P:
+ 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô.
+ Tiền Việt Nam: 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng).
+ 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax màu xanh rêu có số imei: 35284811707796, số sim: 0826103202.
+ 01 (một) xe máy Honda Wave màu đen có BKS: 34B4 - 758.57, có số khung là: RLHJA3925MY072200, số máy: JA39E - 2189494.
Tại Bản kết luận giám định số 4104/KLGD-PC09 ngày 24 tháng 06 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - CATP H kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong màu trắng có khối lượng 2,431 gam là Cần sa.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/6/2023, thông qua Thanh (không rõ nhân thân, lai lịch) - nam thanh niên chơi game ở cùng quán với P, P liên hệ qua số điện thoại 0966999845 và tài khoản Zalo tên “Ah Thanh" hỏi mua 1.000.000 đồng tiền mà túy cần sa. Sau đó, Thanh hướng dẫn P chuyển tiền mua ma túy cần sa vào tài khoản số 0541000253132 mang tên “DO QUYNH TRANG" tại ngân hàng Vietcombank từ tài khoản MoMo của P. Khoảng 30 phút sau Thanh gọi cho P báo có ship hãng AHA move ship đến ngõ 200 V và P ra nhận hàng. P nhận hàng xong mang về phòng trọ của bạn ở trong ngõ 179 V rồi bóc hộp ra bên trong có 01 túi nilong chứa thảo mộc khô (là ma túy cần sa), P có bỏ ra sử dụng, còn 1 nửa cất đi. Khoảng 12 giờ ngày 17/6/2023, P đang ngồi chơi game, M (bạn xã hội, không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể) có trao đổi về việc có người em tên D có nhu cầu mua ma túy cần sa, nên P đã đồng ý bán ma túy cần sa cho D để kiếm lời. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/6/2023, P đang ở phòng trọ của bạn thì có tài khoản zalo Nguyễn Đức D số điện thoại 0876206312 nhắn tin vào zalo của P hỏi mua cần sa, P đã đồng ý bán cho D chỗ ma túy cần sa còn lại với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) theo thỏa thuận với D. Khoảng 17 giờ cùng ngày P mượn xe máy Honda Wave, BKS 34B4-758.75 của anh T (Sinh năm: 2002; HKTT: Số 22 T, phường T, thành phố H, tỉnh H) để mang ma túy cần sa đi giao bán cho D. Khi đến nơi, P gặp D đang đứng ở đầu ngách 35 ngõ 67 V thì tổ công tác đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang như trên. Đối tượng D lợi dụng sơ hở chạy thoát, D đã đánh rơi số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) khi bỏ chạy. Đây là lần đầu tiên P bán ma túy.
P mua ma túy và chuyển tiền từ tài khoản MoMo của P vào tài khoản số 0541000253132 mang tên “DO QUYNH T” tại ngân hàng V hai lần vào các ngày: 13/6/2023 và 17/6/2023. Ngày 13/06/2023, P chuyển số tiền 2.000.000 đồng và ngày 17/06/2023, P chuyển số tiền 1.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy. Những lần P mua ma túy thì khi lái xe Aha move (giao hàng công nghệ) giao hàng tới T sẽ nhắn cho P xuống lấy hàng.
Đối với số thuê bao 0876206312 có chủ thuê bao là anh Nguyễn Đức S (Sinh năm: 1982; HKTT: 11/12 H, phường Q, quận H, thành phố H). Tại cơ quan điều tra, anh Sơn trình bày: Anh S không biết ai sử dụng số thuê bao trên và không biết lý do tại sao số thuê bao trên lại đăng ký chính chủ tên mình. Anh S không quen biết Trần Minh P. P không nhận dạng được anh Nguyễn Đức S.
Đối với số điện thoại 0966999845 có chủ thuê bao là anh Trương Xuân P (Sinh năm: 1992; HKTT: Tổ 3 T, thành phố T, tỉnh N). Tại cơ quan điều tra, anh P trình bày: Anh P không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên, anh không biết tại sao số thuê bao trên lại đăng ký chính chủ tên anh. Anh P không quen biết Trần Minh P.
Đối với tài khoản số 0541000253132 có chủ tài khoản là chị Đỗ Quỳnh T (Sinh năm: 1990, HKTT: Số 68 T, phường T, quận H, thành phố H). Tại cơ quan điều tra, chị T trình bày: Do chị T làm kinh doanh bún chả nên nhiều khách hàng chuyển tiền ăn bằng tài khoản ngân hàng trên và thi thoảng có người không quen biết qua quán nhờ đổi tiền bằng hình thức chuyển khoản. Chị T không nhớ ai nhờ chị nhận tiền từ tài khoản MoMo của Trần Minh P.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen - bạc, BKS: 34B4 - 758.57, số khung: 072200, số máy: 2189494, qua xác minh có chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị T (Sinh năm: 1981; HKTT: Số 22 T, phường T, thành phố H, tỉnh H) – mẹ của anh T. Tại cơ quan điều tra, anh T trình bày: Chiếc xe máy trên là của anh T, được chị T mua cho. P đã hỏi mượn chiếc xe máy trên và nói là mượn xe đi ăn, anh Tân không biết việc P mượn xe để đi giao bán ma túy. Tại cơ quan điều tra, chị Thơm trình bày: Chiếc xe máy trên là do chị T đăng ký chính chủ, hiện chị đã tặng cho con trai là anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho chị Nguyễn Thị T. Chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với đối tượng D và T: Cơ quan điều tra đã tổ chức điều tra xác minh, nhưng không xác định được nhận thân và lai lịch cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Bản cáo trạng số 149/CT-VKSBĐ ngày 12/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố bị cáo Trần Minh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự 2015.
Người làm chứng là anh Đỗ Đức H và ông Phạm Hồng M tại cơ quan điều tra đều khai :
Vào khoảng 17 giờ 45 phút sáng ngày 17/6/2023, anh H và ông M đều chứng kiến công an đi đến kiểm tra một nam thanh niên đi xe máy đang giao dịch gì đó với một nam thanh niên khác. Sau đó thấy một nam thanh niên bỏ chạy vào phía trong ngách. Công an giữ được nam thanh niên đi xe máy, kiêm tra thì phát hiện bắt quả tang tại túi quần phía trước bên phải của nam thanh niên có 01 túi ni-lông chứa thảo mộc khô và thu giữ số tiền là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Khi bị bắt giữ nam thanh niên khai nhận là thảo mộc khô đó là ma túy cần sa mang đi bán cho khách và khai tên là Trần Minh P HKTT: H, phường M, thị xã K, tỉnh H, hiện ở 12 ngõ 179/64/25 V, phường V, quận H, thành phố H. Sau đó công an đưa đối tượng cùng tang vật về trụ sở công an phường và mời anh H và ông M cùng về để làm chứng vụ việc tại trụ sở Công an phường L.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai: Hồi 17 giờ 45 phút ngày 17/6/2023, tại khu vực đầu ngách 35 ngõ 67 V, phường L, quận B, thành phố H , Trần Minh P có hành vi mua bán trái phép 2,431 gam cần sa thì bị Tổ công tác Công an phường L – Công an quận B phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Trần Minh P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Minh P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251, điều 38, điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Đề nghị xử phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 2,431 gam là cần sa;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax màu xanh rêu có số imei: 35284811707796, số sim: 0826103202; 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng);
Tại phiên tòa Trần Minh P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội và bị cáo lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Trần Minh P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 45 phút ngày 17/6/2023, tại khu vực đầu ngách 35 ngõ 67 V, phường L, quận B, thành phố H , Trần Minh P có hành vi mua bán trái phép 2,431 gam cần sa cho 1 đối tượng không quen biết thì bị Tổ công tác Công an phường L – Công an quận B phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi trên đây của Trần Minh P phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự 2015.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiểu loại tội phạm khác trong xã hội, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người thân mắc nghiện. Vì những tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các Quốc gia khác trên thế giới đều kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, song do muốn hưởng lời bất chính và coi thường pháp luật, nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của bị cáo: Là một công dân ở tỉnh ngoài vào H lười lao động, do tham lam thích hưởng lời bất chính nên đã đi vào con đường phạm tội. Nhân thân bị cáo mặc dù chưa có tiền án tiền sự song do muốn hưởng lời bất chính nên bị cáo đã mua ma túy về bán ma túy cho các đối tượng muốn sử dụng ma túy khác thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xét đến tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên tòa áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 2,431 gam là cần sa
- Cơ quan điều tra đã thu giữ 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) của người mua ma túy bỏ chạy làm rơi lại nên áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
- Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax màu xanh rêu có số sim: 0826103202; Imei: 35284811707796. Xét thấy chiếc điện thoại này cáo đã sử dụng để giao dịch trong việc phạm tội, nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: Khoản 1 điều 251, điều 38, điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Trần Minh P 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2023.
- Căn cứ điều 106, 135, khoản 2 điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2013/UBTVQH 14 ngày 30/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô có khối lượng 2,431 gam là cần sa đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Trần Minh P (theo biên bản giao vật chứng số 196 ngày 19/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận B).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax màu xanh rêu có số imei: 35284811707796, số sim: 0826103202 (theo biên bản giao vật chứng số 196 ngày 19/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận B).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) (theo Giấy nộp tiền ngày 19/9/2023 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh B).
- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP H. - Viện kiểm sát ND Quận B. - Viện kiểm sát ND TP H. - Chi cục thi hành án Dân sự Quận B. - Trại tạm giam số 1 H. - UBND phường phường M, thị xã K, tỉnh H; - Sở Tư pháp thành phố H. - Bị cáo. - Lưu. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Ngô Thị Vân |