vanban.org

Bản án 16/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mạch Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Mạch Văn G 33(ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (09/10/2019). Xử phạt bổ sung Mạch Văn G 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạch Xuân G mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mạch Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG CỐNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2020/HS-ST
Ngày 06-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Xuân.

2.Bà Nguyễn Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hà - Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mạch Văn G, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1974 Tại: xã CL, NC, Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn HS, xã CL, huyện NC, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạch Văn T(đã chết), con bà Lê Thị C, sinh năm: 1940 hiện sinh sống tại xã CL, huyện NC, Thanh Hóa; gia đình có 12 anh chị em, bị cáo là con thứ 11; bị cáo có vợ là Vũ Thị H, sinh năm 1975, hiện sinh sống tại: CL, NC, Thanh Hóa, có 4 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/12/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xử phạt 5.500.000đ về tội “Đánh bạc” theo bản án số 43/2007/HSST.

Ngày 13/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, xử phạt bổ sung 5.000.000đ về tội tổ chức đánh bạc, bản án có kháng nghị, Ngày 26/02/2009 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử giữ nguyên án sơ thẩm theo bản án số 18/2009/HSPT.

Ngày 03/10/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, Thanh Hóa xử phạt 4 tháng tù về tội đánh bạc, bản án có khán nghị, Ngày 13/11/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa sửa án sơ thẩm, xử phạt 11 tháng tù về tội đánh bạc theo bản án số 202/2012/HSPT.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/10/2019 đến ngày 18/10/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: 1. Phạm Văn H1, sinh năm 1987.

Nơi ĐKHKTT: Thôn VT, xã TL, huyện NC, tỉnh Thanh Hoá.

2. Lê Văn M, sinh năm 1983.

Nơi ĐKHKTT: Thôn TX, xã TT, huyện NX, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên tòa vắng mặt anh H1 và anh M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/10/2019 Lê Văn M (sinh năm 1983 trú tại xã Tt, huyện NT, tỉnh Thanh Hóa) xin đi nhờ xe từ nhà đến chợ T, xã CL, huyện NC thì gặp Phạm Văn H1 (sinh năm 1987 trú tại thôn VT, xã TL, huyện NC), M rủ H1 vào nhà Mạch Văn G (sinh năm 1980 trú tại thôn HS, xã CL, huyện NC) để mua ma túy về sử dụng. H1 đồng ý và góp số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) rồi cùng M đi bộ đến nhà G thì H1 đứng ngoài cửa, còn M đi vào nhà thì thấy G đang ở nhà. Do là người quen và cũng sử dụng ma túy nên M hỏi mua một gói ma túy với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thì G đồng ý, M đưa cho G số tiền 500.000đ còn G đưa cho M 01 gói ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy vừa thực hiện xong thì bị tổ tuần tra thuộc Công an huyện Nông Cống bắt quả tang thu giữ trong người M 01 gói nhỏ ma túy là Heroin, thu giữ trong người Mạch Văn G số tiền 500.000đ.

Sau khi bị Công an huyện Nông Cống bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy G đã tự nguyện giao nộp thêm 04 gói ma túy mà G cất giấu trong người. Cơ quan CSĐT Công an Nông Cống đã tiến hành khám xét chỗ ở của Mạch Văn G ở thôn HS, xã CL nhưng không thu giữ được gì thêm.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã tiến hành niêm phong 05 gói giấy nói trên. Ngày 10/10/2019 ra Quyết định trưng cầu giám định số 203/CSĐT trưng cầu: 01 gói nhỏ bên ngoài là giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M1; 04 gói nhỏ có kích thước khác nhau, bên ngoài là giấy trắng có dòng kẻ, bên trong đều chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M2.

Tại Kết luận giám định số 2302/PC09 ngày 14/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa:

- Chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,040g (không phẩy không bốn mươi gam), loại Heroin.

- Chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M2 niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,371g (không phẩy ba bảy một gam), loại Heroin.

Số ma túy G tự nguyện giao nộp G khai mục đích là để bán cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Tuy nhiên chưa bán được thì bị bắt và giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống.

Đối với Lê Văn M đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy 0,040g (không phẩy không bốn mươi gam) loại Hêrôine của Mạch Văn G để sử dụng, chưa đến mức xử lý hình sự. Ngày 02/02/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã ra quyết định sử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn M.

Đối với Phạm Văn H1 có hành vi góp tiền cùng với Lê Văn M để mua ma túy của Mạch Văn G về để sử dụng. Ngày 02/01/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn H1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và kết thúc điều tra đề nghị tuy tố Mạch Văn G về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình truy tố Viện kiểm sát phát hiện trước đó, ngày 28/8/2019 Phạm Văn H1 đã bị Công an huyện Nông Cống xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quyết định số 66/QĐ-XPVPHC ngày 28/8/2019. Vì vậy hành vi của Phạm Văn H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS. Ngày 16/01/2020 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án và ra quyết định khỏi tố bị can đối với Phạm Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS. Ngày 15/3/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống ra quyết định khởi tố bổ sung vụ án và khởi tố bị can số 73/CSĐT ngày 15 tháng 3 năm 2020 đối với Phạm Văn H1. Ngày 16/3/2020 ra Quyết định tách vụ án hình sự số 04/CSĐT về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để điều tra xử lý sau đối với Phạm Văn H1, kết thúc điều tra về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Mạch Văn G tại thôn HS, xã CL, huyện NC đề nghị truy tố.

Về nguồn gốc số ma túy trên G khai nhận đã mua của một người đàn ông lạ mặt không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 1.000.000đ trên quốc lộ 1A, địa phận huyện Hà trung, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống chưa xác định được người này nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống tiếp tục điều tra, khi nào xác định được người này sẽ xử lý sau.

* Vật chứng vụ án:

- 01 Bao gói niêm phong và 0,026g (Không phẩy không hai sáu gam) chất bột dạng cục vụ màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M1; 0,349g (Không phẩy ba bốn chín gam) chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M2 là các mẫu vật còn lại sau khi trích mẫu giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lại Thị Thanh Loan, Tô Quang Hòa và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000đ.

Các vật chứng đã chuyển sang kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống theo Quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS ngày 06/4/2020.

Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 06/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống truy tố bị cáo Mạch Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Mạch Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt Mạch Văn G từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (09/10/2019).

Hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 2 Điều 35; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bổ sung đối với bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để sung vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền sử dụng vào việc mua bán ma túy là 500.000đ, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong phạm vi Tòa án xét xử đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ gồm: Lời khai bị cáo quá trình điều tra và vật chứng đã được Cơ quan điều tra trưng cầu giám định khối lượng chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,040g(không phẩy không bốn mươi gam), loại Heroine và phong bì ký hiệu M2 niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,371g(không phẩy ba bảy một gam), loại Heroine theo Kết luận giám định số 2302/PC09 ngày 14/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, đã chứng M vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/10/2019 Mạch Văn G đã có hành vi mua bán trái phép 0,04g heroine cho Lê Văn M và Phạm Văn H1 để lấy 500.000đ thì bị Công an huyện Nông Cống bắt quả tang. Sau khi bị bắt Mạch Văn G giao nộp cho Cơ quan CSĐT 04 gói Heroine có khối lượng 0,371g. Đủ cơ sở kết luận Mạch Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Như vậy, cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như sau:

Ma túy là một hiểm họa mà cả thế giới đang tìm cách loại bỏ việc sử dụng ra khỏi đời sống xã hội. Việc sử dụng ma túy làm con người mất đi việc làm chủ trong việc điều khiển hành vi và việc sử dụng ma túy đã làm làm phá vỡ hạnh phúc của rất nhiều gia đình, cũng chính ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

Trong khi bị cáo là người có năng lực pháp luật, có khả năng nhận thức được hành vi của mình nhưng vẫn mua về để sử dụng sau đó bán cho người khác kiếm lời nên đã phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục và phòng ngừa chung.

Đánh giá về hành vi mua ma túy của Lê Văn M và Phạm Văn H1: M là người trực tiếp rủ H1 đi mua ma túy về sử dụng, cũng chính M là người trực tiếp mua ma túy với G, nhưng M là người chưa bị xử phạt hành chính hoặc có án tích về hành vi "tàng trữ, sử dụng, chiếm đoạt, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy" và lượng Heroin M mua của G chưa đủ định lượng theo quy định của pháp luật, vì vậy M chưa đủ yếu tố cấu thành tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" do đó việc CQĐT xử phạt hành chính đối với M là đúng quy định của pháp luật.

Trong khi đó Phạm Văn H1 là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính ngày 28/8/2019 về hành vi "tàng trữ trái phép chất ma túy" và đến ngày 09/10/2019 lại có hành vi góp tiền cùng với Lê Văn M để mua ma túy về sử dụng, vì vậy việc CQĐT Công an huyện Nông Cống ra quyết định khởi tố bị can đối với H1 và tách vụ án để giải quyết bằng vụ án khác là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt nhiều lần về tội “Đánh bạc" nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, sửa chữa thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo có bố và mẹ là người tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân, huy chương thuộc trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Để tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy cần phải áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung nhưng được xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Về hình phạt bổ sung: bị cáo mua bán trái phép chất ma túy vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng: Đối với số tiền bị cáo thu được từ việc bán ma túy 500.000đ cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 3 Điều 51; khoản 2 Điều 35; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Mạch Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Mạch Văn G 33(ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (09/10/2019).

Xử phạt bổ sung Mạch Văn G 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của Mạch Văn G hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện Nông Cống theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/01/2020.

2.2.Tịch thu tiêu hủy 0,026g (Không phẩy không hai sáu gam) chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M1và 0,349g (Không phẩy ba bốn chín gam) chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M2 là các mẫu vật còn lại sau khi trích mẫu giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lại Thị Thanh Loan, Tô Quang Hòa và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện Nông Cống theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/01/2020.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Mạch Văn G phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ