- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bản án Trưng - Nho, Hằng"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 158/2019/DS-ST Ngày 10 - 9 - 2019 Về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Sáu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Phu;
2. Ông Phan Phước Tân.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 418/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trình Văn T, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Tổ 05, ấp B, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: 1/ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961;
2/ Bà Phú Thị H, sinh năm 1963;
Cùng địa chỉ: Tổ 21, ấp BD, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông T có mặt; ông N, bà H vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Do đã có mâu thu n t trước trong việc tranh chấp quyền sử dụng đất, Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019 tại trước nhà ông Nguyễn Văn N thu c ấp BD, xã K, huyện A, tỉnh An Giang xảy ra việc cự cãi, đánh nhau giữa ông Nguyễn Văn N, bà Phú Thị H với ông Trình Văn T làm ông T bị thương tích.
Theo trình bày c a ông Trình Văn T: Ông T, ông N và bà H có quan hệ bà con với nhau và có xảy ra mâu thu n do tranh chấp đất đai. Sự việc đã đư c Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết thông qua Bản án hành chính số 04/2017/HC-ST ngày 30/3/2017, theo đó Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a bà Phan Thị G (mẹ ru t c a ông T). Ngày 27/02/2019, khi ông T đến phần đất tranh chấp để thăm viếng m ông bà thì ông N và bà H đã dùng cây đánh nhiều cây trúng vào người ông T gây thương tích. Sự việc đư c chính quyền địa phương can thiệp và ông T đư c đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện A t ngày 27/02/2019 đến ngày 04/3/2019. Ông T yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Phú Thị H có trách nhiệm bồi thường các khoản thiệt hại, tiền thuốc; viện phí; mất thu nhập trong những ngày nằm viện c a ông và mất thu nhập c a người chăm sóc; tiền mất thu nhập khi về nhà dưỡng bệnh không đi làm đư c; tiền bù đắp tổn thất tinh thần với tổng số tiền 10.692.000 (mười triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn) đồng.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 11/3/2019 ông Nguyễn Văn N trình bày: Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019 ông T đến trước nhà ông N và nói “quân giựt đất”, ông N hỏi lại thì ông T thách thức “tao nói như thế mày làm gì đư c tao”. Ông N vào nhà lấy m t số cây c i tre, ông T tiếp tục dùng những lời thách thức nên ông N dùng c i tre ném vào người ông T không biết trúng đâu, nhưng thấy có chảy máu. Ông T bỏ ra đường ngồi khoảng m t giờ thì các anh Công an xã Khánh Bình đến hỏi sự việc và kêu ông T đi điều trị. Ông N cũng xác định bà H không có tham gia gây thương tích cho ông T.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 18/3/2019 bà phú Thị H trình bày: Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019, bà H đang ở nhà thì nghe tiếng cự cải, bà H bước sang nhà ông N (ông N là anh rễ bà H) thì thấy ông N và ông T đang cự cải. Ông T đòi chém hết dòng họ nên bà H có nói “Mày chém chị tao chưa đ sao hả mà còn đòi chém hết dòng họ tao”. Lúc này bà thấy ông N dùng cây c i ném thẳng vào người ông T. Sau khi bị ném trúng, ông T bỏ ra phía cây rơm, m t lúc sau thì lực lư ng Công an xã K đến. Bà H xác định bà không tham gia gây thương tích cho ông T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt h p lệ Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao n p, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N và bà H đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận đư c ý kiến c a ông N, bà H.
Về tài liệu, chứng cứ:
Ông T giao n p bản sao Sổ h khẩu gia đình mang tên ch h Phan Thị G, Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trình Văn T; các hóa đơn, chứng t điều trị, giấy ra viện ngày 04/3/2019.
Ông Nguyễn Văn N và bà Phú Thị H không giao n p tài liệu, chứng cứ.
Theo yêu cầu c a đương sự, Tòa án tiến hành thu thập hồ sơ giải quyết vụ việc c a Công an xã K; Hồ sơ Bệnh án; xác minh địa chỉ cư trú c a ông Nguyễn Văn N và bà Phú Thị H.
Tại phiên tòa, ông T rút lại m t phần yêu cầu khởi kiện, ông T yêu cầu ông N, bà H bồi thường tổng thiệt hại là 5.000.000 đồng.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định c a pháp luật tố tụng dân sự; thành phần H i đồng xét xử không thu c trường h p phải thay đổi. Ông N, bà H vắng mặt lần thứ hai không lý do, nên tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông N, bà H là đúng quy định tại các điều 227, 228 B luật Tố tụng dân sự.
Về n i dung: Xác định thương tích c a ông Trình Văn T là do ông Nguyễn Văn N dùng gây ra, không có căn cứ xác định bà H gây thương tích cho ông T, nên chỉ bu c ông N có nghĩa vụ bồi thường. Tại phiên tòa, ông T thay đổi yêu cầu là có l i cho bị đơn, nên đề nghị chấp nhận việc thay đổi yêu cầu c a ông T, bu c ông N bồi thường cho ông T 5.000.000 đồng; đình chỉ m t phần yêu cầu khởi kiện c a ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm c a đại diện Viện kiểm sát, H i đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về tư cách tham gia tố tụng: Ông Trình Văn T kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Phú Thị H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, xác định ông T là nguyên đơn; bà H và ông N là bị đơn.
Về việc vắng mặt c a đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt h p lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông N và bà H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Như vậy, ông N, bà H đã tự t bỏ quyền tham gia tố tụng, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ là phù h p quy định tại các điều 227, 228 B luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông T xác định thương tích c a ông là do ông N và bà H gây ra nên ông yêu cầu ông N, bà H bồi thường. Xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”; là tranh chấp dân sự. Vụ việc xảy ra trên địa bàn huyện An Phú; bị đơn cư trú tại ấp Bình Di, xã Khánh Bình, huyện An Phú, nên thu c thẩm quyền giải quyết c a Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 26, 35, 39 c a B luật Tố tụng dân sự.
Về thời hiệu: Vụ việc xảy ra ngày 27/02/2019, đến ngày 01/4/2019 ông T có đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường. Căn cứ Điều 588 B luật dân sự, xác định vụ việc còn trong thời hiệu khởi kiện.
Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện và phạm vi giải quyết: Theo đơn khởi kiện, ông T kiện yêu cầu ông N, bà H bồi thường tổng thiệt hại 10.692.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T rút lại m t phần yêu cầu, chỉ yêu cầu ông N, bà H bồi thường toàn b thiệt hại 5.000.000 đồng. Yêu cầu này không vư t quá yêu cầu khởi kiện ban đầu và có l i cho bị đơn, phù h p quy định tại Điều 5; khoản 4 Điều 70; khoản 2 Điều 71 B luật Tố tụng dân sự, nên đư c chấp nhận. Như vậy, đình chỉ m t phần yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn là phù h p hướng d n tại Mục IV, Điều 7 Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 c a Tòa án nhân dân tối cao. Phạm vi giải quyết còn lại là việc ông T yêu cầu ông N, bà H bồi thường 5.000.000 đồng.
Xét nội dung tranh chấp:
Theo trình bày c a ông T, khi ông đến viếng m c a họ t c trên phần đất thu c quyền quản lý, sử dụng c a gia đình ông thì bất ngờ ông N, bà H dùng cây tấn công ông gây thương tích, nên ông yêu cầu ông N, bà H có nghĩa vụ liên đới bồi thường; đồng thời yêu cầu cơ quan chức năng xử lý hành vi c a ông N, bà H theo quy định c a pháp luật.
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trình bày c a ông T tại phiên tòa có cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2019, ông Trình Văn T đến phần đất c a gia đình gần nhà ông N để viếng m những người trong họ t c. Giữa ông T và ông N có cự cãi qua lại, ông T có lời lẽ xúc phạm đối với ông N và gia đình ông N. Tức giận việc ông T có hành vi, lời lẽ thách thức, ông N vào nhà lấy cây c i tre ném trúng m t cây vào vùng cằm c a ông T gây thương tích. Việc này đư c ông N th a nhận tại Biên bản ghi lời khai ngày 11/3/2019 c a Công an xã Khánh Bình, nên không cần phải chứng minh. Như vậy, xác định đư c ông N có tác đ ng gây thương tích cho ông T.
Theo hồ sơ giải quyết tại Công an xã K thì bà H không th a nhận có hành vi gây thương tích đối với ông T. Ngoài lời khai c a ông T thì cũng không có chứng cứ nào khác chứng minh bà H có dùng cây đánh gây thương tích cho ông T. T đó có thề xác định, lời trình bày c a ông T cho rằng bà H có dùng cây đánh ông T gây thương tích là không có cơ sở chấp nhận.
Theo hồ sơ bệnh án c a Trung tâm y tế huyện An Phú, thì ông T chỉ bị m t vết sẹo vùng cằm, đã khâu, ngoài ra ông T không có vết thương nào khác. Như vậy, có căn cứ xác định thương tích ở vùng cằm ông T là do ông N dùng cây c i tre ném trúng. Do đó chỉ bu c ông N có trách nhiệm bồi thường.
Theo quy định tại Điều 590 B luật dân sự, thì thiệt hại về sức khỏe đư c bồi thường bao gồm: Chi phí h p lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút c a người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút c a người bị thiệt hại; Chi phí h p lý và phần thu nhập thực tế bị mất c a người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; Thiệt hại khác do luật quy định. Ngoài ra còn phải bồi thường m t khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu.
Xem xét toàn b hồ sơ Bệnh án, các chứng t ông T cung cấp, tình trạng sức khỏe hiện tại c a ông T, xét lỗi các bên, có căn cứ chấp nhận các khoản bồi thường: Tiền thuốc, viện phí 792.000 đồng; tiền xe 300.000 đồng; tiền mất thu nhập c a người bị thiệt hại và người chăm sóc trong 06 ngày nằm viện 3.000.000 đồng (06 ngày x 2 người x 250.000 đồng); tiền bù đắp tổn thất tinh thần bằng 02 tháng lương cơ sở là 3.980.000 đồng.
H i đồng xét xử xét thấy, ông T yêu cầu bồi thường toàn b thiệt hại 5.000.000 đồng là có l i cho bị đơn; xét đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu c a ông T là có cơ sở, đúng quy định c a pháp luật, nên chấp nhận.
Ngoài ra, ông T còn có yêu cầu xử lý hành vi vi phạm pháp luật c a những người đánh ông gây thương tích. Xét thấy yêu cầu này c a ông T không thu c thẩm quyền giải quyết c a Tòa án. Kiến nghị Công an xã K tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý hành chính những người tham gia đánh nhau theo quy định c a pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường: Xác định thương tích, tổn hại sức khỏe c a ông Trình Văn T là do ông Nguyễn Văn N gây ra, không có căn cứ xác định có sự tác đ ng c a bà Phú Thị H. Do đó chỉ bu c ông N có trách nhiệm bồi thường.
Về chi ph tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án không phát sinh chi phí tố tụng khác, nên các đương sự không phải chịu.
Về án phí: Do yêu cầu c a nguyên đơn đư c chấp nhận; ông N là người có lỗi và phải chịu trách nhiệm bồi thường, nên ông N phải chịu án phí. Ông T, bà H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUY T ĐỊNH:
Căn cứ các điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ các điều 217, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 2 khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 26 2016 N BTV H 1 ngày 0 12 2016 của y ban Thường vụ uốc Hội về mức thu, mi n, giảm,thu, nộp, quản lý và s dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận m t phần yêu cầu c a ông Trình Văn T;
1/ Bu c ông Nguyễn Văn N có trách nhiệm bồi thường cho ông Trình Văn T 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Kể t khi án có hiệu lực pháp luật, ông T có đơn yêu cầu thi hành án mà ông N không thi hành đầy đ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi đư c quy định tại khoản 2 Điều 468 c a B luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2/ Không chấp nhận yêu cầu c a ông T về việc yêu cầu bà Phú Thị H cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường.
3/ Đình chỉ m t phần yêu cầu c a ông Trình Văn T (phần 5.692.000 đồng).
Về án phí: Ông Nguyễn Văn N chịu 300.000 Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Phú Thị H và ông Trình Văn T không phải chịu án phí.
Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
Án tuyên công khai có mặt ông Trình Văn T. Thời hạn kháng cáo c a ông T là 15 ngày kể t ngày tuyên án (ngày 10/9/2019); thời hạn kháng cáo c a ông ông N, bà H là 15 ngày kể t ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án đư c niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 0 Luật Thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện An Phú (1); - THADS huyện An Phú (1); - Công an xã K (1), - Các đương sự (3); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Sáu |