vanban.org

Bản án 14/2024/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ về việc yêu cầu ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H bồi thường thiệt hại do sức khỏa bị xâm phạm.

Buộc ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H pH liên đới bồi thường cho ông Phạm Văn Đ số tiền là 14.397.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên pH thi hành án còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi su…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "PHẠM VĂN Đ- TRƯƠNG MINH V VÀ NGUYỄN THỊ H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ về việc yêu cầu ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H bồi thường thiệt hại do sức khỏa bị xâm phạm.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS-ST
Ngày 04 - 7 - 2024
V/v tranh chấp bồi thường
thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thuý Vân và bà Nguyễn Thị Loan.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp bồi thường tổn hại sức khoẻ”, theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn 8, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ: Luật sư Bùi Công Th, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình; địa chỉ: Số 64, đường Dương Văn An, phường Đồng H, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trương Minh V, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn 8, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Phạm Văn Đ và ông Bùi Công Thình thống nhất trình bày:

Năm 1996, gia đình ông Phạm Văn Đ có khai hoang sử dụng thửa đất tại ven suối Vực Mít đến năm 2010 gia đình không sử dụng do bị xói mòn. Năm 2019, gia đình ông Trương Minh V đến chiếm đất nhưng ông Đ không cho. Ngày 25/12/2023, ông Đ đi thăm đất thì phát hiện ông V đã cắm cọc gỗ và dây thép gai làm hàng rào lấn chiếm sang đất của gia đình Đ nên ông Đ nhổ hàng rào ông V đã cắm. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, ông Đ đến nhà ông V để hỏi rỏ lý do vì sao ông V làm hàng rào lấn chiếm đất của gia đình Đ thì gặp bà Nguyễn Thị H, hai bên xảy ra tranh cãi với nhau thì bà H dùng tay đấm và cào liên tục vào mặt ông Đ làm chảy máu. Ông Đ dùng tay tát một cái vào má trái của bà H, bà H lấy khúc tre đánh vào sườn bên trái người ông Đ và đá liên tiếp vào bụng ông Đ, lúc này ông V đứng phía sau dùng tay đánh một cái vào đầu ông Đ làm cho ông Đ bị thương pH đi điều trị tại Trạm xá xã Xuân Trạch ngày 25/12/2023, sau đó chuyển đến Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới điều trị đến ngày 30/12/2023 ra viện. Sau khi ra viện, ông Đ vẫn thấy đau đầu, chống mặt nên gia đình chuyển ông Đ vào Bệnh việt TW Huế điều trị từ ngày 30/12/2023 đến ngày 05/01/2024 ra viện. Sau khi sự việc xảy ra ông Đ trình báo đến Công an xã Xuân Trạch và Công an huyện Bố Trạch giải quyết. Ngày 19/02/2024, Công an huyện Bố Trạch ra Quyết Đ trưng cầu giám Đ số: 278/QĐ-CSĐT. Tại Kết luận giám Đ tổn thương cơ thể trên người sống số: 22/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 27/02/2024 của Trung tâm GĐYK-PY Sở Y tế Quảng Bình, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích trên cơ thể gây nên là 04%. Ngày 01/3/2024, Công an huyện Bố Trạch ra Quyết Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đ và ông V, bà H. Quá trình điều trị tại bệnh viện, gia đình pH chi phí điều trị với số tiền tổng cộng là 22.884.920 đồng, ông Đ yêu cầu ông V, bà H bồi thường nhưng ông V, bà H không chấp nhận bồi thường. Do đó, ông Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 31.041.367 đồng, cụ thể các khoản sau:

+ Tiền mất thu nhập thời gian nằm điều trị tại Trạm Y tế xã Xuân Trạch từ ngày 25/12/2023 đến 26/12/2023: 01 ngày 350.000 đồng; Tiền mất thu nhập thời gian nằm điều trị tại Bệnh viện Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới từ ngày 26/12/2023 đến ngày 29/12/2023: 04 ngày x 350.000 đồng/ngày = 1.400.000 đồng; Tiền mất thu nhập thời gian điều trị tại Bệnh viện TW Huế từ ngày 30/12/2023 đến ngày 05/01/2024: 06 ngày x 350.000 đồng/ngày = 2.100.000 đồng; Tiền công người nhà nuôi dưỡng: 01 người x 11 ngày x 350.000 đồng = 3.850.000 đồng.

+ Tiền thuốc tại Trạm xá xã Xuân Trạch: 311.000 đồng; Tiền điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới: 2.241.820 đồng; Tiền thuốc theo hoá đơn của Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới: 900.000 đồng; Tiền thuốc theo hoá đơn của Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới: 1.524.438 đồng; Tiền điều trị tại Bệnh viện TW Huế: 5.559.109 đồng (gồm: tiền thuốc theo hoá đơn ngày 02/01/2024: 926.580 đồng, ngày 03/01/2024: 47.000 đồng, tiền thuốc + tiền giường: 248.160 đồng, ngày 05/01/2024: 2.191.018 đồng, Tiền tái khám ngày 05/02/2024: 574.100 đồng, chi phí các khoản khác ngày 05/01/2024: 1.647.251 đồng);

+ Tiền ăn trong thời gian điều trị: 11 ngày x 80.000 đồng/ngày = 880.000 đồng (Sáng: 20.000 đồng, trưa và tối 02 bửa 60.000 đồng);

+ Tiền xe: Từ Xuân Trạch đi Bệnh viện VN Cu Ba - Đồng Hới: 500.000 đồng; Tiền xe đi từ Bệnh viện VN Cu Ba - Đồng Hới đi Bệnh viện TW Huế: 2.000.000 đồng; Tiền xe đi Bệnh viện TW Huế về Xuân Trạch: 600.000 đồng; Tiền xe tái khám chiều đi và về từ Xuân Trạch đến Huế: 1.200.000 đồng; Tiền giám Đ thương tật: 250.000 đồng; Tiền xe đi về để giám Đ thương tật: 250.000 đồng; Tiền bồi thường tổn thất tinh thần: 7.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Phạm Văn Đ thừa nhận: Trong sự việc xảy ra ngày 25/12/2023 thì ông cũng là người có lỗi với mức độ 30%.

Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H trình bày:

Sự việc xảy ra do có sự mâu thuẫn giữa gia đình ông Trương Minh V, bà Nguyễn Thị H với ông Phạm Văn Đ trong việc tranh chấp đất đai. Ngày 25/12/2023, ông Đ phá dỡ hàng rào trên đất gia đình ông V, bà H và đến nhà gia đình ông V chửi bà H, trong lúc lời qua tiếng lại dẫn đến hai bên dùng tay xô đẩy, giằng co đánh đập nhau. Ông Đ dùng tay đấm vào má trái bà H nên bà H dùng tay cào cấu vào mặt, vào người ông Đ, ông Đ dùng tay bóp cổ bà H, sau đó ông V ở nhà ông bà nội trở về thấy sự việc xảy ra giữa ông Đ và bà H nên ông V dùng tay tát vào sau đầu ông Đ, ông Đ bỏ về báo với cán bộ thôn, Công an xã Xuân Trạch tiến hành làm việc và Công an huyện Bố Trạch đã ra quyết Đ trưng cầu giám Đ tỷ lệ thương tật đối với ông Đ. Kết luận giám Đ tỷ lệ thương tật của ông Đ là 4% nên Công an huyện Bố Trạch đã ra Quyết Đ xử phạt hành chính đối với ông Đ và ông V, bà H. Sau đó ông Đ đi khám, điều trị tại Trạm y tế xã Xuân Trạch 01 ngày. Nay, ông Đ khởi kiện yêu cầu bồi thường số tiền 31.041.367 đồng, ông V, bà H chỉ chấp nhận phần điều trị tại Trạm xá xã Xuân Trạch, còn điều trị tại Bệnh viện Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới, Bệnh viện TW Huế là do ông Đ tự đi, không có sự chỉ Đ của tuyến dưới nên không đồng ý bồi thường.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa hôm nay ông Đ giữ nguyên yêu cầu buộc ông V, bà H bồi thường số tiền 31.041.367 đồng; ông V, bà H chỉ chấp nhận bồi thường chi phí điều trị tại Trạm xá xã Xuân Trạch, không chấp nhận các yêu cầu khác của ông Đ.

Tại phiên tòa, ông Trương Minh V và Nguyễn Thị H cũng thừa nhận sự việc xảy ra ngày 25/12/2023 ông bà cũng có lỗi nhưng mong tòa xem xét mức độ cho hợp lý.

Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy Đ về trình tự thủ tục tố tụng mà Bộ luật tố tụng dân sự quy Đ.

Đối với các bên đương sự, quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy Đ của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ về việc yêu cầu ông Trương Minh V, bà Nguyễn Thị H bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến sức khỏe của ông Phạm Văn Đ với tổng số tiền là 18.441.518 đồng; bao gồm: tiền điều trị tại Trạm xá xã Xuân Trạch 311.000 đồng, Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 3.141.820 đồng, Bệnh viện Trung ương Huế 3.264.598 đồng; tiền thuê xe: từ xã Xuân Trạch đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới 500.000 đồng, đi từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba đến Bệnh viện TW Huế 2.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của ông Đ do nằm viện 11 ngày với số tiền 350.000 đồng/ngày là 3.850.000 đồng; tiền tái khám 574.100 đồng; tiền thuê xe đi tái khám chiều đi và về từ Xuân Trạch đến Huế 1.200.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần của ông Đ là 02 tháng lương cơ sở 3.600.000 đồng. Nhưng do trong vụ án ông Phạm Văn Đ cũng là người có 30% lỗi nên cần buộc ông Trương Minh V, bà Nguyễn Thị H bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Văn Đ với tổng số tiền là 12.909.063 đồng Về án phí dân sự sơ thẩm, ông Phạm Văn Đ không pH chịu án phí, đề nghị buộc ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H pH chịu theo quy quy Đ và tuyên quyền kháng cáo theo quy Đ của pháp luật.

NHẬN Đ CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các bên đương sự, trên cơ sở kết quả thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ theo đơn khởi kiện của ông Phạm Văn Đ, Toà án xác Đ mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần pH giải quyết trong vụ án là tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy Đ tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Vụ việc xảy ra trên địa bàn Thôn 8, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình cũng là nơi thường trú của bị đơn ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về giải quyết yêu cầu của đương sự:

Xét việc ông Đ bị ông V và bà H đánh gây thương tích pH đi điều trị tại Trạm xá xã Xuân Trạch, Bệnh viện Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới, Bệnh viện Trung ương Huế từ ngày 25/12/2023 đến ngày 05/01/2024 là có thật, điều này cũng được ông V và bà H thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nên không cần pH chứng minh. Như vậy, xác Đ được ông V, bà H có tác động gây thương tích cho ông Đ nên ông V, bà H là người có lỗi. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Đ cũng thừa nhận sự việc xảy ra ngày 25/12/2023 ông cũng là người có 30% lỗi. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã ra quyết Đ trưng cầu giám Đ thương tích đối với ông Phạm Văn Đ và kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích trên cơ thể gây nên là 04% nên Công an huyện Bố Trạch đã ra Quyết Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với ông V, bà H và ông Đ là phù hợp theo quy Đ của pháp luật. Hành vi dùng tay gây thương tích của ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H mặc dù không đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng về mặt dân sự ông Phạm Văn Đ có quyền khởi kiện yêu cầu ông V, bà H bồi thường thiệt hại do thương tổn đến sức khỏe của ông Đ là có căn cứ và phù hợp với quy Đ pháp luật.

Xét các yêu cầu của ông Đ đối với các khoản bồi thường thì Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận các khoản gồm:

- Chi phí điều trị và tiền thuốc theo hoá đơn, tại: Trạm xá xã Xuân Trạch 311.000 đồng; Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới: 3.141.820 đồng; Bệnh viện TW Huế: Tiền thuốc theo hoá đơn 3.264.598 đồng.

- Tiền mất thu nhập của ông Đ và người chăm sóc: tiền mất thu nhập của ông Đ là 11 ngày, số tiền 350.000 đồng/ngày là 3.850.000 đồng; tiền mất thu nhập của người chăm nuôi trong 11 ngày với số tiền 300.000 đồng/ngày là 3.300.000 đồng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ do ông Đ cung cấp và phù hợp với Công văn số: 453/UBND ngày 05/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã Xuân Trạch xác nhận mức thu nhập bình quân của người làm việc tự do phổ thông tại địa phương thì mức tiền giao động khoảng 7.000.000 đồng - 8.000.000 đồng/tháng (hoặc khoảng từ 250.000 đến 300.000 đồng/ngày).

- Tiền thuê xe: Chấp nhận thuê xe đi từ xã Xuân Trạch đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba 500.000 đồng; từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba đi Bệnh viện TW Huế 2.000.000 đồng, từ Bệnh viện TW Huế về xã Xuân Trạch 600.000 đồng

- Tiền tổn thất về tinh thần: Hội đồng xét xử chấp nhận mức bồi thường tổn thất về tinh thần tương đương 02 tháng lương cơ sở với số tiền là 3.600.000 đồng.

Do đó tổng số tiền thiệt hại xảy ra ngày 25/12/2023 giữa ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H với ông Phạm Văn Đ là 20.567.418 đồng nhưng xét trong vụ việc này ông Phạm Văn Đ cũng là người có 30% lỗi nên ông V bà H pH liên đới bồi thường cho ông Đ số tiền 14.397.000 đồng là phù hợp với quy Đ tại các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí vụ kiện: Căn cứ khoản 5 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 5 Điều 15; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Phạm Văn Đ được miễn án phí; buộc ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H pH liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy Đ của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy Đ của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

Áp dụng khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 5 Điều 15; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ về việc yêu cầu ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H bồi thường thiệt hại do sức khỏa bị xâm phạm.

Buộc ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H pH liên đới bồi thường cho ông Phạm Văn Đ số tiền là 14.397.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên pH thi hành án còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất quy Đ tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn pH thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.

2. Về án phí vụ kiện: Ông Phạm Văn Đ được miễn án phí; buộc ông Trương Minh V và bà Nguyễn Thị H pH liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên tổng số tiền pH bồi thường cho ông Phạm Văn Đ là 719.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/7/2024).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy Đ tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Đ tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ